Thứ Hai, 11 tháng 10, 2010

Bài # 17: "Đức Chúa Trời có một đại gia đình—Phần 2"



Bài Tín Điều Các Sứ Đồ
Đức Chúa Trời có một đại gia đình—Phần 2
“Tôi Tin Hội Thánh Phổ Thông”
Êphêsô 4:1-6
Chúng ta hãy bắt đầu với điểm cơ bản nhất. Chữ “Hội thánh” có ý nói tới điều gì? Trong Tân Ước, chữ “Hội thánh” dịch từ chữ Hylạp ekklesia, bản thân nó ra từ hai chữ Hylạp có nghĩa là “ra khỏi”“kêu gọi”. Khi bạn ghép hai chữ nầy lại với nhau, bạn có chữ ekklesia, ý nói “hội chúng những người được kêu gọi ra khỏi thế gian để đi theo Đức Chúa Jêsus Christ”. Cách định nghĩa ấy cho chúng ta biết Hội thánh đang nói tới con người. Nói theo cách mạnh mẽ hơn, Hội thánh là những người nhóm lại với nhau trong vai trò các tín đồ trong Đức Chúa Jêsus Christ. Đó không phải là tòa nhà nơi họ nhóm lại đâu. Kiểu như hội chúng của chúng ta nhóm lại trong một nơi thánh được xây dựng bởi hệ phái trưởng lão vào năm 1902. Chúng ta thường nghe những lời khen ngợi về vẻ đẹp của loại kính màu, những hàng ghế bằng gỗ uốn cong, và mái vòm khảm đá thật lộng lẫy. Khi bạn nhìn vào ngôi nhà thờ của chúng tôi, bạn nghĩ: “Đấy là những gì một hội thánh trông giống như thế”. Nhưng bạn có thể dẹp bỏ toà nhà đi và điều đó chẳng gây tổn hại gì cho Hội thánh đâu. Tôi biết rõ như thế vì khi trở lại với năm 1977, khi chúng tôi còn ở trong một tòa nhà nhỏ hơn nhiều trên đường Madison, tòa nhà của chúng tôi bị cháy thiêu vào một tối Chúa nhựt. Mặc dù nơi thánh chẳng còn lại gì cả trừ ra đống đổ nát còn âm ỉ cháy, hội chúng đã nhóm lại ở một chỗ tạm mượn vào sáng hôm ấy. Và mặc dù hết thảy chúng tôi đều rất vui vẻ về những sự nâng cấp mà chúng tôi mới vừa hoàn tất, chúng tôi hiểu ngôi nhà ấy thực sự có ý nghĩa như thế nào!?! Chúng tôi rất vui về mái cổng mới — song nó chỉ là mái cổng mới. Nó không phải là Hội thánh. Phần mặt bằng được nâng cấp, ở đó ban thăm viếng nhóm lại — song nó chỉ là mặt bằng được nâng cấp. Nó không phải là Hội thánh.
Hội thánh là con người. Đôi khi Tân Ước sử dụng từ “Hội thánh” để nói tới tất cả những người thuộc dân sự của Đức Chúa Trời trên khắp thế giới. Chúng ta gọi đấy là “Hội thánh phổ thông”. Thường thì chữ “Hội thánh” đề cập tới một nhóm tín hữu ở một địa điểm thật đặc biệt — hội thánh địa phương. Cả hai cách sử dụng từ ngữ đều hợp lệ. Hội thánh Cơ đốc vừa là Hội thánh phổ thông vừa là Hội thánh địa phương. Nó bao gồm tất cả các tín đồ thật trên khắp thế giới, và Hội thánh cũng tự tỏ ra trong hàng triệu hội chúng địa phương trên khắp thế giới.
Đấy là theo truyền thống để nói tới bốn “mặt” của Hội thánh. Bốn “mặt” nầy có thể được trình bày như bốn từ chính. Hai từ ra trực tiếp từ Bài Tín Điều Các Sứ Đồ, và hai từ ra từ Bài Tín Điều Nicene. Chúng ta cần phải xem xét hết thảy bốn mặt để có đủ bức tranh những gì chúng ta muốn nói tới khi chúng ta nói: “Tôi tin Hội thánh”.
I. Hội thánh là Một
Êphêsô 4:4-6 sử dụng chữ “một” bảy lần để nhấn mạnh sự hiệp một cơ bản của chúng ta trong vai trò các tín đồ trong Đấng Christ. Có một thân thể, một Thánh Linh, một sự trông cậy, một Chúa, một đức tin, một phép báptêm, và một Đức Chúa Trời và một Cha cho hết thảy chúng ta. Sự hiệp một có bảy phần đó nhấn mạnh lẽ thật cho rằng Đấng Christ đang xây dựng một Hội thánh — chớ không phải 2 hay 3 hoặc 15, hay 20.000 Hội thánh. “Một hội thánh” mà Đấng Christ đang xây dựng bao gồm tất cả các tín đồ thật, họ đã được sanh lại nhơn đức tin nơi Đấng Christ. Họ là “Hội thánh” bất chấp sự gia nhập hệ phái nào đặc biệt của họ.
Tuần nầy, một người bạn gửi email cho tôi yêu cầu tôi nhắc tới thắc mắc nói tới Cơ đốc nhân trong Giáo hội Công giáo Lamã. Đôi khi thắc mắc được đưa ra rất thẳng thừng: “Có Cơ đốc nhân nào trong Giáo hội Công Giáo không?” hay “Bạn có thể là một Cơ đốc nhân và là tín đồ Công giáo Lamã không?” Ở một cấp độ, thật là dễ chỉ trích những câu hỏi như thế là xẳng xớm và bất công. Song ở cấp độ khác, những câu hỏi ấy phản ảnh những sự chia rẻ rất là trầm trọng (và thù hận liên tục trong một số trường hợp) giữa Công giáo và Tin lành kể từ thời Cải Chánh. Trong khi sự thực cho thấy rằng trong mấy năm gần đây, cấp độ đã giảm xuống, điều nầy cũng rất thực ở nhiều nơi trên khắp thế giới, lằn ranh phân cách giữa hai nhóm rất sâu đậm và rộng khắp. Và chắc chắn một số người ở cả hai phía đã gửi gắm mọi người trong “nhóm kia” vào ngọn lửa hừng địa ngục rồi. Câu trả lời của tôi cho thắc mắc ấy đại loại như sau: Khi chúng ta sau cùng đứng trước mặt Chúa, Ngài sẽ không hỏi về Hội thánh của chúng ta: “Có phải ngươi ở trong Hội thánh Luther không?” hay “Có phải ngươi ở trong giáo hội Công giáo?” hoặc “Có phải ngươi nhóm lại ở Hội thánh Calvary Memorial không?” Trong ngày trọng đại ấy, Đức Chúa Trời sẽ hỏi từng người chỉ một câu thôi: “Ngươi đã làm gì với Con Ta, là Đức Chúa Jêsus Christ?” Từng người sẽ trình sổ về cách thức mình (nam hay nữ) đáp ứng với Chúa Jêsus. Bạn có tin cậy Ngài chưa? Bạn có tin theo Ngài không? Bạn có tiếp nhận Ngài làm Chúa và Cứu Chúa chưa? Hay có phải bạn đã chối bỏ Ngài? Có phải bạn tin cậy vào những việc lành, tôn giáo, tiếng tăm hay công trạng nào đó của bạn hầu kiếm được lối vào trong thiên đàng? Việc duy nhứt sẽ là vấn đề trong ngày ấy là bạn có tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa hay chưa!?!
Tôi đã nói trong tuần qua, và tôi nói lại vấn đề ấy trong tuần nầy, là có những dị biệt quan trọng giữa những người Tin lành và Công giáo Lamã ở nhiều lãnh vực quan trọng trong lẽ đạo của Kinh thánh. Chúng ta không những bất đồng — chúng ta bất đồng trầm trọng về những vấn đề tối quan trọng. Cũng rất là thực khi chúng ta có những lãnh vực nhất trí với nhau rất lớn — về Đức Chúa Trời, về Ba Ngôi Đức Chúa Trời, về thần tánh của Đấng Christ, về sự chết và sự sống lại của Ngài, về tính cần thiết của ơn cứu rỗi, và còn nhiều điều nữa. Chúng ta thực sự có một quan điểm khác biệt về vai trò của Mary, sự xưng công bình chỉ bởi một mình đức tin, sự công bình của Đấng Christ được quy cho, vai trò của mối thông công, và địa vị của hàng thánh đồ, đặt tên cho một vài lãnh vực chính. Tôi không muốn làm giảm đi trong một phút tầm quan trọng của các vấn đề nầy. Chúng là vấn đề — đấy là lý do tại sao chúng ta không hiệp với các nhà thờ Công giáo trong các buổi thờ phượng chung. Quả là không thích ứng khi làm như vậy. Nhưng nói như thế không có nghĩa là chúng ta nghĩ chẳng có một Cơ đốc nhân nào hết trong Giáo hội Công giáo. Chúng ta nghĩ đức tin cứu rỗi chơn thật sẽ không sánh với địa vị thuộc viên trong hội thánh — của chúng ta hay của họ.
Có những Cơ đốc nhân chân chính trong Giáo hội Công giáo. Có những Cơ đốc nhân chân chính trong Hội thánh Luther. Có những Cơ đốc nhân chân chính trong Hội thánh Episcopal. Có những Cơ đốc nhân chân chính trong Hội thánh Methodist. Có những Cơ đốc nhân chân chính trong Hội thánh Calvary Memorial.
Và có những thuộc viên trong Hội thánh chưa được cứu trong tất cả các nhóm nầy, tôi dám chắc như thế. Một số người trong họ đã được truyền dạy cho các giáo lý sai lầm. Nhiều người khác chỉ bám vào truyền thống của tôn giáo. Có người thừa hưởng đức tin mình mà chẳng chịu xem xét nó. Và có người tin chưa đúng là sống theo tôn giáo sẽ mở hai cánh cổng thiên đàng ra.
Tôi muốn nói rằng chúng ta không xét đoán người ta chỉ qua những cái nhãn mà họ đang mang lấy. Chúng ta hãy đối xử với mọi người giống như từng cá nhân và không chỉ là thuộc viên của một nhóm. Đức Chúa Trời có dân sự của Ngài trong nhiều chỗ rất đáng kinh ngạc. Chắc chắn Ngài có người trong những nơi mà chúng ta sẽ không muốn có họ một khi chúng ta là Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta không phải là Đức Chúa Trời. Đấy là lời nói tận cùng đối với tôi. Tôi rất vui sướng khi nhóm lại thông công Cơ đốc với tất cả các tín đồ thật trong Đấng Christ — và đồng thời tôi duy trì quyền bất đồng với họ về các vấn đề quan trọng. Khi nói rằng Hội thánh là một thì có nghĩa là Hội thánh thật gồm có tất cả những tín đồ thật trong Đấng Christ bất chấp họ đang mang lấy nhãn hiệu gì. Và trong sự hiệp một cơ bản ấy, có nhiều chỗ dành cho sự dạy giáo lý và cũng dành cho sự bất đồng chơn thật. Hiệp một không có nghĩa là hoàn toàn nhất trí đâu.
II. Hội thánh là Thánh
Chữ “Thánh” làm cho nhiều người hoảng sợ vì họ kết nó với một loại giả hình tôn giáo ngạo mạn. Khi nói hội thánh là thánh dường như có ý nói “thánh hơn ngươi”. Hội thánh ấy có khi lại thiếu sót trong thiết kế của Đức Chúa Trời không thể cãi được. Và hết thảy chúng ta đều hiểu rằng Cơ đốc nhân đôi khi cũng giả hình khủng khiếp lắm. Nhưng đấy chưa phải là trọng tâm của vấn đề. Chữ “thánh” có ý nói “biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời”. Bất cứ điều chi thuộc về Đức Chúa Trời đều là thánh do hội hiệp với Ngài. Chúng ta gọi Sách Thánh là Kinh Thánh vì nó ra từ Đức Chúa Trời và nó thuộc về Ngài. Hội thánh là thánh vì dân sự là thánh. Và dân sự trong Hội thánh là thánh vì họ thuộc về Đức Chúa Trời do ưu điểm huyết của Đức Chúa Jêsus Christ chuộc tội cho họ. I Phierơ 2:9 chép rằng người tin Chúa là dòng giống được chọn, là thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, và là “dân thuộc về Đức Chúa Trời”. Bốn mệnh đề ấy mô tả chúng ta là ai là bởi nhờ vào ân điển của Đức Chúa Trời. Những việc ấy trở nên hiện thực cho chúng ta chẳng bởi điều chi khác hơn công việc của Đức Chúa Trời ở trong chúng ta. Ngài đã cứu chúng ta và rồi Ngài công bố chúng ta là dân được chọn, là thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh của Ngài — hết thảy vì chúng ta thuộc về Ngài. Nhưng đấy chưa phải là cuối cùng của câu chuyện đâu. Câu Kinh thánh nói Đức Chúa Trời đã làm như vậy để chúng ta “rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài”. Đấy là chỗ mà sự thánh khiết trở nên rất thực tế. Chúng ta là dân thánh của Đức Chúa Trời cần phải sống sao cho chúng ta đem lại sự vinh hiển cho Chúa.
Được nên thánh có nghĩa là đi ngược lại với trào lưu vì trào lưu đang chảy theo hướng sai lầm. Nên thánh có nghĩa là lội ngược dòng vì dòng nước đang chảy vào cái hố sâu hủy diệt. Sự nên thánh luôn luôn bao gồm cả sự chối bỏ những phương thức tối tăm rồi bước đi trong sự sáng láng của Chúa. Khi Hội thánh thực sự là Hội thánh, nó sẽ trở thành muối và sự sáng trong thế gian. Hãy nhớ rằng muối là chất kích thích và có tính cách bảo tồn. Nếu Hội thánh không kích thích thế gian, nó chưa làm tròn công việc của nó. G. K. Chesterton nói theo cách nầy: “Cái gì chết có thể trôi xuôi với dòng nước, nhưng chỉ có cái gì sống mới có thể lội ngược dòng của nó”. Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta phải “lội ngược dòng” mỗi ngày, và rồi Ngài ban cho chúng ta năng lực để làm công việc ấy.
III. Hội thánh là phổ thông
Một số nhà truyền đạo bị bối rối bởi từ ngữ “phổ thông” vì họ nghĩ nó có cái gì đó phải làm với Giáo hội Công giáo Lamã. Không một điều gì có thể xa rời đối với lẽ thật. Hãy chú ý, khi chúng ta đến với cụm từ nầy, từ ngữ “phổ thông” luôn luôn bắt đầu bằng chữ “c” nhỏ [theo Anh ngữ]. Nếu đó là “Catholic”, thì thật nó đề cập tới Giáo hội Công giáo Lamã. Nhưng “catholic” với chữ “c” viết thường, có ý nói tới “phổ thông”. Khi áp dụng cho Hội thánh, nó có ý nói rằng sứ điệp Tin lành là dành cho mọi người ở khắp mọi nơi, trong từng thế hệ và trong từng tình huống. Chúng ta thấy phần nhấn mạnh nầy ở nhiều nơi trong Tân Ước. Mác 16:15 dạy chúng ta phải rao giảng Tin Lành cho từng dân tộc. Chúa Jêsus truyền cho chúng ta phải ra đi và môn đồ hóa từng dân tộc (Mathiơ 28:19). Ngài phán rằng sự ăn năn và sự tha tội sẽ được rao giảng trong danh của Ngài cho các nước (Luca 24:47). Chúng ta cần phải trở thành chứng nhân cho đến cùng trái đất (Công Vụ các Sứ đồ 1:8). Vì vậy, ở một mặt, trở nên “phổ thông” có nghĩa là chúng ta dự tính rao giảng Tin lành bởi từng phương tiện khả thi, đến với nhiều người nếu khả thi, ở từng địa điểm khả thi, hầu cho bởi ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta có thể đem được nhiều người có sự khả thi của chúng ta đến với đức tin cứu rỗi trong Đức Chúa Jêsus Christ. Hội thánh cần phải là “catholic” hay phổ thông trong tầm với của nó.
Nhưng Hội thánh cần phải trở nên “phổ thông” trong bản chất của nó nữa. Chúng ta nên trông mong và cầu nguyện để hội chúng địa phương của chúng ta sẽ ở trong phương thức nhỏ nhoi phản ảnh tấm lòng của Đức Chúa Trời cho cả thế gian. Rõ ràng điều nầy sẽ xảy ra hiển nhiên trong khu vực thành phố như Chicago hơn trong một thị trấn nhỏ ở Kansas. Tôi thường nghe người ta nói rằng giờ phân cách trong nước Mỹ là 11 giờ sáng Chúa nhựt. Điều đó không thật ở nhiều hội thánh ngày nay. Khi nước Mỹ ngày càng thay đổi nhiều hơn, chúng ta đang nhìn thấy những kết quả trong các hội chúng của chúng ta. Tôi lấy làm lạ trước những gì đã xảy ra tại Hội thánh nầy trong mấy năm trở lại đây. Một số Chúa nhựt dường giống như thể chúng ta đã trở thành một Hiệp Chủng Quốc thực sự, với đủ hạng người đến từ Nigeria, Ghana, Brazil, China, India, Korea, Greece, Costa Rica, và hàng tá quốc gia khác nữa. Tôi mong xu hướng nầy cứ tiếp diễn mãi — và tôi hoan nghênh về điều đó.
Mới đây, tôi có lượt qua một số thông tin rất đáng kinh ngạc. Bạn có biết rằng vào năm 1900, 80% Cơ đốc nhân sinh sống ở Bắc Mỹ và châu Âu không? Đến cận năm 2000, nhiều số liệu đã được nâng lên cho thấy 60% tất cả các Cơ đốc nhân hiện đang sống ở Nam Mỹ, châu Phi và châu Á. Đến năm 2050, không một người da trắng Latinh nào trong 20% nhà thờ Cơ đốc trên khắp thế giới. Có nhiều tín đồ Trưởng Lão hơn gấp bốn lần ở Hàn quốc so với nước Mỹ và có nhiều tín đồ thuộc giáo phái Anh ở châu Phi hơn là ở Anh quốc. Ở Scotland chỉ có 10% các thuộc viên Hội thánh đi nhà thờ vào bất kỳ Chúa nhựt nào trong khi ở Phi luật Tân 70% các thuộc viên Hội thánh đi nhà thờ mỗi tuần.
Và trung tâm hấp dẫn trên thế giới chuyển từ Hoa kỳ và châu Âu đến nam bán cầu. Điều nầy có những hàm ý to lớn và đáng khích lệ — và nó báo hiệu những cuộc xung đột đang phát triển với Hồi giáo hung hăng ở nhiều phần trên thế giới. Trong hội chúng của chúng ta, chúng ta đang nhìn thấy Sứ Mệnh Cao Cả đang ứng nghiệm như một mùa gặt linh hồn đến từ từng chi phái, từng dân tộc và từ từng nhóm sắc tộc ở trên đất.
IV. Hội thánh là hội thánh mang vai trò sứ đồ
Mang vai trò sứ đồ của ý nói rằng Hội thánh đang chạy theo đức tin do các sứ đồ của Chúa Jêsus rao giảng. Công Vụ các Sứ đồ 2:42 chép rằng vào ngày Lễ Ngũ Tuần, 3.000 tân tín hữu đã dâng chính mình họ cho “đạo của các sứ đồ”. Có hai cách để nhìn biết một Hội thánh có thực sự mang vai trò của sứ đồ hay không — nhưng chỉ có một cách là đúng thôi. Giáo hội Công giáo nói tới “sự nối tiếp vai trò sứ đồ” là một sự nối tiếp cấp lãnh đạo con người khởi sự với Phierơ và tiếp tục trải qua nhiều năm tháng xuống tới Giáo Hoàng hiện tại — John Paul II. Họ tin rằng Đức Chúa Trời đã chú trọng đến cấp lãnh đạo con người và “chìa khóa vào trong Nước Trời” đã được chuyển giao từ cấp lãnh đạo nầy sang cho cấp lãnh đạo khác trải qua nhiều thế đại. Kinh thánh chẳng nói gì về việc tìm thấy uy quyền trong một sự nối tiếp cấp lãnh đạo của con người. Ấy chẳng phải các sứ đồ là con người mà chúng ta chạy theo; chúng ta chạy theo đạo của họ. Một Hội thánh mang vai trò sứ đồ đạt tới tầm cỡ nó chạy theo sự dạy của các sứ đồ trong Tân Ước. Tất cả 27 sách đều là chi tiết của “đạo sứ đồ” hình thành nền tảng cho đức tin của chúng ta. Khi Kinh thánh nói tới “đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi” (Giuđe 3), đây là những gì Kinh thánh muốn nói tới. Hội thánh thật bám chặt vào sự dạy đã đề ra trong Tân Ước. Sự dạy ấy giữ cả hai việc: đức tin và truyền bá đức tin ấy cho nhiều người khác.
Vậy thì, đâu là Hội thánh? Nếu chúng ta lấy ý nghĩa cơ bản của ekklesia rồi thêm ý nghĩa của bốn câu nầy, chúng ta có một kết quả đại loại như sau: Hội thánh là …
1) Bộ phận rộng khắp các tín đồ thật trong Chúa Jêsus,
2) Những người đi ngược lại với trào lưu xã hội,
3) Đức tin của họ đặc cơ sở nơi Kinh thánh và
4) Họ rao giảng tin lành cho từng dân tộc.
J. I. Packer gọi Hội thánh là “cộng đồng siêu nhiên dân được chuộc của Đức Chúa Trời”. Tôi thích cụm từ đó, vì nó nhắc cho chúng ta nhớ rằng Hội thánh không phải là một tổ chức như Rotary Club hay Câu lạc Bộ Thế Kỷ thứ 19. Vì Hội thánh thuộc về Đức Chúa Trời, nó thực sự là một cộng đồng siêu nhiên gồm những người mà đời sống của họ đã được biến đổi bởi Đức Chúa Jêsus Christ.
Điều nầy muốn nói điều gì cho chúng biết đây? Sau đây là một số hàm ý cho chúng ta xem xét.
A. Chúng ta là một chi thể trong một hữu thể lớn lao — lớn lao hơn chúng ta nhiều lắm.
Nếu chúng ta nắm bắt một chi tiết nhỏ trong những gì Đức Chúa Trời muốn làm qua Hội thánh, chúng ta sẽ được chữa lành cho đến đời đời về sự hiện thấy nho nhỏ, về sự suy nghĩ thiển cận, về thái độ xu hướng giáo hội một cách ích kỷ. Tôi thấy thật là thoải mái khi nhớ rằng Hội thánh ở đây không phải là trung tâm của thế giới. Đôi khi tôi có thể bị ràng buộc (hay sa lầy) trong các chi tiết sinh hoạt của Hội thánh đến nỗi dường như Hội thánh nầy là mọi vấn đề vậy. Nhưng quan sát một cách thích ứng, chúng ta chỉ là một tiền đồn nhỏ trong đạo quân lớn của Đức Chúa Trời đang rãi khắp thế giới. Chúng ta nhận một vai trò để lo thực hiện, như từng Hội thánh khác trên thế giới cũng nhận một vai trò thể ấy.
B. Chúng ta cần đến nhau.
Hết thảy chúng ta đều quen thuộc với hình ảnh ngọn lửa là dấu hiệu công việc của Đức Chúa Trời trên thế gian. Khi Đức Thánh Linh ngự đến, Ngài đặt trong lòng chúng ta sự nóng nả dành cho Chúa. Nhưng ngay cả ngọn lửa sáng rực nhất dần dần rồi cũng phải tàn lịm đi. Nhưng khi các khúc gỗ âm ỉ cháy được chất chồng lên nhau, ngọn lửa hực lên ngày càng sáng thêm lên. Đức Chúa Trời không hề dự tính cho bạn phải sống đời sống Cơ đốc một mình đâu. Chúng ta được dựng nên để sống chung với nhau trong sự hiệp một với các anh chị em trong Hội thánh. Và tôi không có ý nói tới hội thánh phổ thông. Tôi muốn nói Hội thánh địa phương nhóm lại vào sáng Chúa nhật không xa xôi đối với nơi bạn sinh sống. Bạn có thể lớn lên về mặt thuộc linh mà chẳng cần Hội thánh không? Có lẽ chỉ một thời gian ngắn thôi — nhưng không thể trọn đời được đâu, và không nằm trong phương thức mà Đức Chúa Trời đã dự trù. Chúng ta cần đến nhau — vì tình bạn, mối tương giao, địa vị môn đồ, cầu nguyện, khích lệ, ủng hộ, thờ phượng, hiệp một truyền giảng, và khi cần thiết, để chỉnh đốn và sửa đổi.
C. Chúng ta cần hành động hiệp một hôm nay.
Hãy xem xét cơn khủng hoảng đạo đức hiện nay trong nước Mỹ xem. Chỉ trong một năm thôi, những kẻ ủng hộ hôn nhân đồng phái tính đã thực hiện những bước thật dài. Những gì dường như không thể được cách đây 12 tháng giờ đã trở nên hiện thực — hàng ngàn cặp đồng giới tính đã “thành hôn”. Làm sao một việc như thế lại xảy ra cho được chứ? Có nhiều câu trả lời hợp lý cho câu hỏi ấy, nhưng đây là một câu trả lời cần phải suy gẫm: Họ, những người đề xuất hôn nhân đồng giới tính đã được tổ chức thật chu đáo, và họ cùng làm việc với nhau để biến loại hôn nhân nầy thành ra hiện thực. Và Hội thánh ở đâu đang khi điều nầy xảy ra? Erwin Lutzer có một quyển sách mới xuất bản có đề tựa là “Sự thực về hôn nhân đồng giới tính”. Ông đã ghi đề tựa cho Chương 1: “Khi bạn nằm ngủ”. Điều đó nhắc cho tôi nhớ tới thí dụ về lúa mì và cỏ lùng ở Mathiơ 13:24-30, 36-43. Sau khi nhà nông gieo lúa mì, kẻ thù đã đến rồi gieo ra cỏ lùng trong khi ai nấy đều đi ngủ. Đấy là điều đã xảy ra trong nước Mỹ. Trong khi chúng ta đi ngủ, nhóm người đồng tính luyến ái đã làm công việc gian ác của nó.
Sau buổi thờ phượng vào ngày Chúa nhựt, một người bạn đến từ Ân độ thuật cho tôi nghe một câu chuyện thật hay. Trong cuộc bầu cử mới đây ở xứ sở của bà ấy, đảng cầm quyền Hindu mất quyền điều khiển chính phủ. Bạn tôi nói rằng các nhà thờ khắp Ấn độ cùng nhau nhóm lại để cầu thay trong ba ngày trước khi bầu cử. Đức Chúa Trời đã trả lời từ thiên đàng, và bây giờ có một chính quyền thực thụ không thù nghịch với Cơ đốc giáo. Khi các Cơ đốc nhân cùng nhau làm việc, thờ phượng và cầu nguyện, những câu trả lời đáng kinh ngạc đều đến từ Đức Chúa Trời.
D. Chúng ta cần một mục tiêu cấp thế giới.
Thế giới rất to lớn, các nhu cần cũng rất to lớn, và Hội thánh được kêu gọi đi vào trong thế gian rao giảng Tin lành. Không một hội thánh địa phương nào có thể làm việc ấy một mình được. Một hội thánh “phổ thông” thực sự có tấm lòng dành cho các nước trên thế gian. Cách đây không lâu, tôi có đi ngang qua một nhà thờ với danh xưng thật lạ lùng — Hội Thánh Của Các Dân Tộc. Ý tưởng rất hay, tùy thuộc vào Kinh thánh, khuấy đảo linh hồn — một Hội thánh với mục tiêu chắc chắn về các dân tộc trên thế giới. Theo một ý nghĩa sâu sắc, mỗi Hội thánh đáng phải là “Hội Thánh Của Các Dân Tộc”.
E. Chúng ta cần Hội thánh và Hội thánh cần chúng ta.
Chúng ta phải sống tốt đẹp hơn, phải mạnh mẽ hơn khi chúng ta tìm được vị trí của mình trong Hội thánh, và Hội thánh sẽ tốt đẹp hơn và mạnh mẽ hơn khi chúng ta có mặt ở đó. Đôi khi chúng ta nói tới Hội thánh là chỗ “tương giao của đức tin” và là một “cộng đồng các tín hữu”. Song chẳng có sự thông công nào hết trừ phi những “tín hữu” đứng dậy và chào hỏi nhau. Và sẽ chẳng có một cộng đồng nào trừ phi chúng ta cố ý quyết định “tương giao” với nhau. Giáo phụ Hội thánh đầu tiên Cyprian đã nói: “Người nào có Đức Chúa Trời làm Cha mình có Hội thánh là mẹ của mình”. Trong khi chúng ta không lượng tính theo cách ấy, câu nói chứa đựng lẽ thật quan trọng. Chính qua Hội thánh và trong Hội thánh và bởi Hội thánh mà tin lành đến với thế gian. Và Hội thánh là nơi mà ở đó chúng ta có thể học tập và lớn lên bằng cách dựa vai với các tín hữu khác rồi nhờ đó học tập trở thành hạng tín đồ tin kính của Đấng Christ.
Dietrich Bonhoeffer nói rằng Hội thánh là nơi mà ở đó những giấc mơ của chúng ta được rãi ra — và đấy là một việc tốt lành. Mọi người đến Hội thánh với một loạt những trông mong nhất định. Các tân tín hữu thường bước vào Hội thánh trông mong tìm được một chút thiên đàng ở trên đất. Hết thảy chúng ta suy nghĩ, kỳ vọng và trông đợi anh chị em của chúng ta trong Đấng Christ sẽ đối đãi với chúng ta tốt hơn người ở ngoài thế gian. Và hết thảy chúng ta đều có những ý tưởng nhất định về âm nhạc, sự thờ phượng, rao giảng và về những công việc mà Hội thánh phải làm và cách thức mà Hội thánh sẽ tiến tới trước. Song chẳng sớm thì muộn, chúng ta khám phá ra rằng các thánh đồ không luôn luôn là thánh, và dân sự của Đức Chúa Trời không luôn luôn tin kính. Đôi khi họ hay gắt gỏng, không tử tế, khó chịu, và có khi lại nghiệt ngã nữa. Hội thánh — bởi đó tôi có ý nói tới Hội thánh địa phương — làm cho chúng ta rất đỗi thất vọng. Khi điều đó xảy ra, đức tin của chúng ta bị rãi tan đi và có khi kỳ vọng của chúng ta bị hủy diệt. Những trông mong giả dối của chúng ta từng bị tan rãi đi trên những vầng đá thực tại cứng ngắt, khi ấy (và chỉ khi ấy) chúng ta mới bắt đầu kinh nghiệm được ân điển của Đức Chúa Trời. Chính trong thực chất của cuộc sống chung với nhau với mọi thất vọng não nề của nó và những lần tỉnh thức mà chúng ta khám phá ra Đức Thánh Linh đang hành động trong chúng ta. Trong nhà thờ, chúng ta đến nhóm với những người mà chúng ta không bao giờ hội hiệp được. Và đấy là một việc tốt lành vì Đức Chúa Trời sử dụng “hạng người cộc lốc” đó để nắn đúc chúng ta ra giống theo ảnh tượng của Đấng Christ.
Khi Hội thánh nầy chuyển hướng vào tương lai, tôi tin chúng ta sẽ trở thành hai điều ngày càng rõ ràng hơn nữa:
Một cộng đồng yêu thương và
Một ngọn đèn của lẽ thật.
Lẽ thật và tình yêu thương. Tình yêu thương và lẽ thật. Nếu chúng ta có thể kết hai việc nầy vào sinh hoạt hội chúng của chúng ta, chúng ta sẽ nhìn thấy bàn tay phước hạnh của Đức Chúa Trời và chúng ta sẽ nhìn thấy những dòng người ngày càng tăng đến hiệp với chúng ta.
Tôi là người của Hội thánh
Khi tôi đến với phần cuối của sứ điệp nầy, tôi vui sướng tái khẳng định rằng tôi vẫn tin nơi Hội thánh. Tôi là “tù chung thân” trong Hội thánh. Tôi có mặt trong lớp ấu nhi, khi tôi mới biết đi, rồi tôi lên mẫu giáo, rồi là một thiếu niên, rồi là một người lớn. Tôi là một ấu nhi trong Hội thánh, rồi thiếu niên trong Hội thánh, rồi thanh niên trong Hội thánh, và giờ đây tôi là một người của Hội thánh. Tôi có mặt trong nhiều buổi thờ phượng của Hội thánh, tôi không thể bắt đầu đếm lại hết thảy những buổi ấy. Tôi đã dự nhiều buổi nhóm cầu nguyện, các buổi nhóm tư gia, những nhóm nhỏ, Lớp Trường Chúa Nhựt, và tôi đã dự nhiều bữa ăn tối, nhiều cuộc picnic của Hội thánh, nhiều trò chơi, các bữa tiệc có bơi lội trong Hội thánh, những buổi hòa nhạc của Hội thánh, những lần phấn hưng trong Hội thánh, và nhiều lần nhóm lại của Hội thánh. Tôi đã đứng trên tòa giảng và ngồi ở hàng ghế kia, có mặt cả hai bên bàn tiệc thánh, tôi đã chịu phép báptêm và làm phép báptêm, và tôi đã nhóm lại ở mấy Hội thánh trải qua bao năm tháng.
Tôi đã nhìn thấy điều tốt lành và tôi đã nhìn thấy sự xấu xa. Khi Hội thánh tốt lành, thì cái gì trông cũng tốt hết. Khi Hội thánh trở xấu đi, quả thật trông nó rất tồi tệ.
Và trải qua mọi sự, tôi vẫn tin nơi Hội thánh của Đức Chúa Trời — yếu đuối, dễ sai lầm, và đang có cần sự cải thiện. Hội thánh vẫn còn là kỳ vọng tốt nhứt của thế gian. Thế gian sẽ ở đâu nếu không có Hội thánh? Sẽ ra sao nếu các môn đồ thất bại? Hay sẽ ra sao nếu Đức Chúa Trời phán: “Các ngươi, con người đã thất bại. Ta sẽ hủy diệt hết Hội thánh?” Hãy suy nghĩ đến thế gian nếu không có các giáo sĩ Cơ đốc, hay bịnh viện Cơ đốc, các viện điều dưỡng, nhà nghỉ, và các cơ quan cứu tế Cơ đốc. Sẽ ra sao nếu chẳng có một trường trung học và đại học Cơ đốc nào hết? Hãy tưởng tượng một thế giới không có Kinh thánh hay âm nhạc Cơ đốc hoặc sứ điệp tin lành cứu rỗi xem. Thế giới đang tồi tệ hôm nay, nó sẽ tệ hại hơn nữa nếu không có Hội thánh của Đức Chúa Jêsus Christ. Một thế giới không có ảnh hưởng Cơ đốc quả thật sẽ trở thành một nơi buồn bã nhất.
Và Oak Park sẽ ở đâu nếu không có Hội thánh Calvary Memorial? Chúng ta không phải là Hội thánh duy nhứt trong thành phố. Nhiều hội chúng khác cũng rao giảng Tin lành trong cộng đồng của chúng ta và chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời vì chức vụ của họ. Nhưng sẽ ra sao nếu những nhà sáng lập của chúng ta không khởi sự Hội thánh nầy cách đây 89 năm? Hoặc sẽ ra sao nếu họ chuyển nhà thờ sang một thị trấn khác? Thị trấn Oak Park cần chúng ta thậm chí có ai đó không tán thưởng sự hiện diện của chúng ta. Chúng là một phần của muối và sự sáng mà ngôi làng nầy có cần.
Chúng ta không thể xây khỏi Hội thánh.
Chúng ta phải tin nơi một Hội thánh duy nhứt, thánh khiết, phổ thông, mang trọng trách của sứ đồ.
Chúng ta phải tin nơi Hội thánh địa phương dù yếu đuối và dễ sai lầm.
Chúng ta không thể xây lưng đi vì Hội thánh là bất toàn. Nếu chúng ta xây đi khỏi Hội thánh, chúng ta đang xây lưng đối với chính mình Chúa Jêsus vì Hội thánh là thân thể của Đấng Christ ở trên đất.
Chúa Jêsus phán: “ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó” (Mathiơ 16:18). Hội thánh dường như không luôn luôn theo cách ấy:
Hội thánh bị chia rẻ và yếu đuối. Nhưng nó sẽ đắc thắng.
Các cấp lãnh đạo của nó thường thất bại. Nhưng Hội thánh sẽ đắc thắng.
Đôi khi các buổi thờ phượng rất ảm đạm. Điều đó không thành vấn đề đâu. Hội thánh sẽ đắc thắng.
Những tòa nhà có thể trống rỗng, nhưng đấy chẳng phải là toàn bộ câu chuyện đâu. Hội thánh sẽ đắc thắng. Không phải vì bất cứ điều chi chúng ta nói hay làm, nhưng chỉ vì Chúa Jêsus đã phán như thế. Các ngôi nhà thờ thịnh rồi suy, quí Mục sư đến rồi đi, một số nhà thờ làm mồi cho đạo giả, và các cấp lãnh đạo làm cho chúng ta phải thất vọng. Nhưng Hội thánh của Đức Chúa Trời sẽ đắc thắng. Chúa Jêsus phán Hội thánh và Lời của Ngài sẽ không thất bại.
Trong ánh sáng của mọi điều nầy, chúng ta sẽ làm gì?
Cầu thay cho Hội thánh!
Yêu mến Hội thánh!
Tham gia vào Hội thánh!
Phục vụ trong Hội thánh!
Ủng hộ Hội thánh!
Dấn thân vào Hội thánh!
Làm cho Hội thánh được tốt hơn qua việc trở thành một chi thể!
Đừng làm một khán giả! Hãy tham gia vào một đội!
Tại sao? Chúa Jêsus đang hiện diện ở đây! Bấy nhiêu đó đủ là lý do rồi.
Tôi vẫn tin nơi Hội thánh của Đức Chúa Trời. Còn bạn thì sao?

Bài # 16: "Đức Chúa Trời có một đại gia đình—Phần 1"



Bài Tín Điều Các Sứ Đồ
Đức Chúa Trời có một đại gia đình—Phần 1
“Tôi Tin Hội Thánh Phổ Thông”
- Mathiơ 16:18

Chúa Jêsus phán: “ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó” (Mathiơ 16:18).
Bài Tín Điều Các Sứ Đồ chép: “Tôi tin Hội Thánh phổ thông”.
Người ta nói: “Tôi thích Chúa Jêsus, nhưng tôi không màng đến nhà thờ”. “Tôi tin Đức Chúa Trời, nhưng tôi không tin nơi nhà thờ”. “Tôi sống thuộc linh, nhưng tôi không tôn giáo thành thử tôi không đi nhà thờ”. “Nhà thờ đầy dẫy những kẻ giả hình”. “Tôi có thể thờ phượng Đức Chúa Trời khi đang chơi golf. Đấy là nhà thờ của tôi”. “Tôi tin theo đường lối riêng của mình. Tôi không cần đi nhà thờ và nhờ ai đó nói cho tôi biết những điều phải tin”. “Nhà thờ đang chạy theo tiền bạc của tôi”. “Tôi ghét nhà thờ với tổ chức”.
Thế là chúng ta có nhiều nan đề với phần nầy của Bài Tín Điều Các Sứ Đồ. Một số người trong chúng ta vấp ngã với chữ “nhà thờ”. Nếu chúng ta là một nhà thờ Tin Lành, tại sao chúng ta nói chúng ta tin nơi Hội Thánh “phổ thông”? Có cái gì đó về cụm từ ấy khiến chúng ta cảm thấy không yên tâm, giống như thể chúng ta đang làm việc gì đó sai trái nếu chúng ta đọc Bài Tín Điều Các Sứ Đồ theo cách ấy. Có lẽ chúng ta nghĩ cách kín đáo (hay không phải kín đáo như thế) đọc Hội Thánh Phổ Thông là đúng — hay một điều gì giống như vậy. Khi tôi khởi sự loạt bài giảng nầy, tôi đã nhận được nhiều lời phê bình và thắc mắc từ những người nói cho tôi biết họ muốn nghe những điều tôi nói trong bài giảng nầy vì cụm từ đặc biệt đó đã làm cho họ phải bối rối. Tại sao chúng ta nói cụm từ ấy và cụm từ đó có nghĩa gì?
Để giúp chúng ta có được sự tập trung thích đáng, chúng ta hãy bắt đầu với từ ngữ “Hội Thánh”. Khi chúng ta chuyển ngược từ Anh ngữ về gốc Hylạp, chúng ta gặp chữ ekklesia. Chữ Hylạp đó gần như được dịch bằng chữ “church” (Hội Thánh). Khi bạn phân tích chữ ấy, bạn khám phá ra ekklesia ra từ hai chữ Hylạp khác: ek, nghĩa là “ra khỏi” và động từ kaleo, nghĩa là “kêu gọi”. Khi bạn ghép hai chữ nầy lại với nhau, bạn có chữ ekklesia, hội chúng của những người được kêu gọi ra khỏi thế gian mà vào trong gia đình của Đức Chúa Trời. Hãy suy nghĩ đến một vòng tròn to lớn bao gồm mọi người sống trên bề mặt quả đất. Cái vòng đó gồm có hơn 6 tỉ người. Giờ đây, hãy vẽ một vòng tròn nhỏ hơn (và vẫn có thật) bên trong cái vòng lớn kia. Vòng nhỏ hơn (khoảng 2 tỉ người xưng mình là Cơ đốc nhân) tiêu biểu cho Hội Thánh. Chữ Hội Thánh đề cập tới những người nào đã được Đức Chúa Trời kêu gọi ra khỏi thế gian để hiệp với nhau trong vai trò môn đồ của Đức Chúa Jêsus Christ. Vì thế Hội Thánh là một “hội chúng các tín đồ được kêu gọi ra khỏi”. Sự định nghĩa đó giúp đỡ rất nhiều vì nó cho chúng ta biết một vài sự thực chính:
1. Hội Thánh không phải là một toà nhà. Đấy là một lầm lỗi rất phổ thông. Chúng ta nói: “Hãy đến nhóm với tôi ở Hội Thánh”, nhưng chúng ta thực sự đang nói tới nhà thờ. Ngôi nhà thờ của chúng ta là một trường hợp rất kỳ diệu. Nó được thiết kế bởi W.G. Williamson vào năm 1902 cho Hội Thánh Trưởng Lão Đầu Tiên ở Oak Park. Nó xinh đẹp đến nỗi nó được nhắc tới trong Sách Hướng Dẫn của Chicago như một trong những ngôi nhà thờ đáng nhớ nhất ở Oak Park và sông Forest. Nhưng bất luận nó dễ thương đến ngần nào, toà nhà nầy không phải là Hội thánh và có thể không bao giờ là Hội thánh. Mặc dù nó được xây bằng đá, những hòn đá thì chết, còn Hội thánh Chúa Jêsus đang xây dựng được làm bằng những hòn đá sống (I Phierơ 2:5). Từ ngữ “Hội thánh” trong Tân Ước không hề đề cập tới một tòa nhà. Nó luôn luôn đề cập tới con người.
2. Hội thánh không phải là một hệ phái. Đôi khi chúng ta nói tới Hội thánh Giám Lý hay Hội thánh Luther hay Giáo hội Công giáo hoặc Hội thánh Tân giáo. Đấy là cách sử dụng cụ thể từ ngữ “Hội thánh”, nhưng đấy chẳng phải là ý nghĩa được thấy có trong Tân Ước. Những hệ phái là những tổ chức do con người lập ra cho phép các nhóm nhà thờ sinh hoạt chung với nhau. Đây chẳng phải là một quan niệm xấu đâu, và chẳng có gì sai trái khi là chi thể của một hệ phái — nhưng Tân Ước không sử dụng từ Hội thánh theo cách đặc biệt nầy.
Đây là những sự phân biệt rất có ích khi bạn suy nghĩ đến sự lộn xộn tôn giáo trong nước Mỹ. Có khoảng 400.000 nhà thờ địa phương trong nước Mỹ — và hơn 7.000 nhà thờ tính riêng cho Chicago. Không một người nào thực sự biết có bao nhiêu nhà thờ ở Chicago vì chúng ta có quá nhiều nhà thờ tư gia và nhà thờ ở mặt tiền. Một nghiên cứu nhanh ở Oak Park, một ngôi làng nhỏ thôi đã có hơn 55 ngôi nhà thờ. Tôi nói “hơn 55” vì con số có thể cao hơn.
Với điều đó làm lai lịch, chúng ta đến với cụm từ nầy trong Bài Tín Điều Các Sứ Đồ: “Tôi tin Hội Thánh phổ thông”. Nghe xong từng ấy lời lẽ, sẽ khiến bạn dừng lại mà suy nghĩ. Mãi cho tới điểm nầy, mọi sự trong Bài Tín Điều Các Sứ Đồ một là không thấy được hoặc có tính lịch sử xa xa. Khi Bài Tín Điều Các Sứ Đồ nhắc tới “Đức Chúa Trời Cha Toàn Năng”, chúng ta hiểu rằng chúng ta không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời tận cốt lõi của Ngài được. Ngài bị giấu kín đối với hai con mắt của chúng ta. Đức Thánh Linh thì cũng một thể ấy. Khi chúng ta nói tới Đức Chúa Jêsus Christ, chúng ta tuyên bố niềm tin của mình nơi một Thân Vị đã từng bước đi trên đất cách đây 20 thế kỷ. Bài Tín Điều Các Sứ Đồ dẫn chúng ta đi xa đến chỗ tuyên xưng đức tin của mình nơi Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh linh. Nhưng giờ đây, chúng ta phải cẩn thận khi chúng ta nói: “Tôi tin … Hội thánh”. Hãy quên phần “phổ thông” kia một chút đi. Sau nhiều cụm từ tôn vinh kia, thật là khó chịu khi tai mình nghe nói: “Tôi tin Hội thánh”. Với những lời lẽ nầy, Bài Tín Điều Các Sứ Đồ ấn sâu vào chúng ta thực chất vấn đề của cuộc sống trong thế kỷ thứ 21. Bây giờ, chúng ta được yêu cầu phải khẳng định đức tin của mình nơi Hội thánh — một thể chế dường như là bất xứng đối với độ tin cậy của chúng ta. Bản tường trình lịch sử được kiểm tra với độ tối ưu. Những kẻ hay phê phán thích chỉ ra rằng nhiều cuộc chiến đổ máu nhất trong lịch sử đã diễn ra vì cớ tôn giáo — thường con người giết chóc lẫn nhau không thương xót trong danh của Đức Chúa Jêsus Christ. Hồng Y Giáo Chủ Francis George bình luận rằng có khi Hội thánh trông giống đám đông hỗn tạp hơn là một gia đình thánh của Đức Chúa Trời. Trong thời của chúng ta, chúng ta đã nhìn thấy các cấp lãnh đạo Cơ đốc đáng kính đã làm mồi cho tình trạng phi đạo đức và tham lam. Cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục trong chức vụ linh mục của Công giáo đã làm nhơ nhuốc nhà thờ (tôi muốn nói nhà thờ giống như một thể chế — không những là Giáo Hội Công Giáo Lamã) trong con mắt của nhiều người — các tín đồ và người không tin Chúa như nhau. Có một ngày khi xã hội nhìn vào các nhà thờ chuyên cung ứng đạo đức và cấp lãnh đạo thuộc linh. Ngày ấy (cho tốt hơn hay tệ hơn) đã qua đi rồi.
Có lẽ bạn nhớ khi hai bàn tay nắm lại với nhau, với ngón tay của bạn xoắn lại rồi nói: “Đây là nhà thờ, đây là gác chuông. Hãy mở cửa ra rồi nhìn thấy tất cả mọi người”. Đấy là vấn đề, sự thách thức, ơn phước và hy vọng của nhà thờ — "tất cả mọi người”. Con người! Nếu chúng ta không phải xử lý với con người, nhà thờ sẽ trở thành một ngọn gió. Nhưng bên trong mỗi nhà thờ bạn tìm thấy …
Hạng người khó khăn,
Hạng người hay sinh sự,
Hạng người có tâm tình tầm thường,
Hạng người tham lam,
Hạng người không biết điều,
Hạng người không tử tế,
Hạng người thiếu suy nghĩ,
Hạng người hay phê phán,
Hạng người giận dữ,
Hạng người hay gắt gỏng.
Khi tôi đưa ra danh sách nầy vào sáng Chúa nhật, tôi nghe vài người nói: “Amen”“đúng đấy, Mục sư ơi”. Nếu bạn nghi ngờ hạng người nầy có đang tồn tại trong nhà thờ hay không, chỉ hãy nhìn kỹ trong kính đi. Hết thảy chúng ta đều là hạng tội nhân đang có cần ân điển của Đức Chúa Trời. Như tôi đã nói với các bạn trước đây, nếu chúng ta biết rõ sự thật trần trụi về từng người khác trong nhà thờ, và họ biết rõ sự thật trần trụi về chúng ta, hết thảy chúng ta đều la hét bỏ chạy ra khỏi nơi thánh ngay.
Nan đề của nhà thờ và nan đề về con người. Một tác giả đã nói theo cách nầy:
Hãy sống cao lên với các thánh đồ mà chúng ta yêu mến, như thế là vinh hiển đấy.
Nhưng sống thấp kém với các thánh đồ mà chúng ta quen biết, đấy là một câu chuyện khác.
Nhưng nếu con người là nan đề, họ cũng là hy vọng của nhà thờ. Hãy xua hết người ta đi thì sẽ chẳng còn có nhà thờ chi nữa. Vì vậy Bài Tín Điều Các Sứ Đồ thách chúng ta phải gạt qua một bên mọi quan niệm sai lầm và các thất bại của chúng ta rồi nói: “Tôi thực sự tin nơi Hội thánh”. Chúng ta cần phải nói cho nhiều như chúng ta cần phải nói: “Tôi tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ”. Chúng ta cần phải khẳng định rằng Hội Thánh tồn tại vì cớ Đức Chúa Trời, rằng thể chế quá con người nầy rất thường thất bại vì nó đầy dẫy những con người vẫn dám tin vì có Đức Chúa Trời trong đó. Ngài đã khởi động nó, nó thuộc về Ngài, và nếu chúng đang ở trong Hội thánh, chúng ta cũng thuộc về Ngài nữa. Đây là những điều đáng kinh ngạc và thậm chí phản văn hóa nữa — nhưng chúng cũng hoàn toàn tùy thuộc theo Kinh thánh. Tôi biết có nhiều người đã trở nên phê phán, chỉ trích và thậm chí hoài nghi về Hội thánh nữa. Có người đã bị tổn thương nặng do thiếu suy nghĩ và thậm chí do các thuộc viên ác ý của Hội thánh. Nhưng chúng ta không nên để cho các hành động dại dột của người khác giữ chúng ta không thốt ra những gì Cơ đốc nhân đã nói qua nhiều thế kỷ: “Tôi tin Hội thánh”.
Bốn từ chìa khóa đã được sử dụng về mặt lịch sử để mô tả Hội thánh. Hai trong số chúng ra trực tiếp từ Bài Tín Điều Các Sứ Đồ, hai từ kia ra từ bài tín điều Nicene. Trong bài giảng nầy, chúng ta sẽ xem xét từ thứ nhứt trong mấy từ đó. Chúng ta hãy nhìn vào các từ chìa khóa kia vào Chúa nhật tới.
Hội thánh là Một
Từ chìa khóa thứ nhứt là một — Hội thánh là một. Khi Chúa Jêsus phán: “Ta sẽ xây Hội thánh ta”, Ngài sử dụng số ít, chớ không phải số nhiều — "Hội Thánh”. Chúa Jêsus hứa xây một Hội thánh và chỉ có một Hội thánh. Chỉ có một ekklesia thật — hội chúng của những người đã được kêu gọi ra khỏi thế gian mà đi theo Đấng Christ. Sự hiệp một của Hội thánh là cơ sở cho sự hiệp một Cơ đốc chơn thật. Hay nói theo cách tiêu cực, không có sự hiệp một đó, sự hội hiệp sẽ rất là khó. Phaolô giải thích nền tảng của sự chúng ta hội hiệp trong Đấng Christ bằng cách sử dụng từ ngữ “một” 7 lần trong Êphêsô 4:4-6: “Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, như anh em bởi chức phận mình đã được gọi đến một sự trông cậy mà thôi; chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp tem; chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người”.
Một thân thể
Một Thánh Linh
Một sự trông cậy
Một Chúa
Một đức tin
Một phép báptêm
Một Cha
Hội thánh là một vì nó được xây trên Đức Chúa Jêsus Christ: “Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Jêsus Christ” (I Côrinhtô 3:11). Samuel Stone đã nói trong bài thánh ca nổi tiếng của ông: (TC 146)
Căn cơ duy nhất Jêsus thôi
Nàng Hội thánh nương trên Ngài,
Lời thiêng, Nước Thánh rửa tội xưa
Tân tạo nên trang hiền giai.
Ngài từ thượng thiên xuống kiếm nàng
Hứa khiến nên tân phụ Ngài;
Hy sinh đem huyết cao mua nàng
Vì nàng Chúa lâm hình cay.
Tuy dung thân trong khắp nhân gian,
Hiệp một thánh dân thiên thành;
Nấy qui tắc cứu rỗi quí nương,
Một Cha, một đức tin, trùng sanh;
Nàng ngợi một danh Chúa hiển vinh,
Bánh thánh hưởng chung tiệc linh,
Ngày đêm nôn nả trông mong luôn,
Nguyền đạt mỗi ơn Thần Linh.
Trước khi chúng ta đi tới nữa, chúng ta cần phải hiểu rõ ràng trọn vẹn về điều nầy. Chỉ có một Hội thánh vì chúng ta có một Chúa — chớ chẳng phải hai. Bất luận chúng ta có thể nghĩ gì về sự lộn xộn tôn giáo thật khó tin trong thời buổi của chúng ta — sự lộn xộn ấy không đến từ Đức Chúa Trời. Hội thánh là một vì Đấng Christ là một.
Giáo lý quan trong theo Kinh thánh về sự hiệp một của Hội thánh ra từ lẽ thật nầy. Khi Chúa Jêsus cầu nguyện ở Giăng 17:21 rằng “để cho ai nấy hiệp làm một”, Ngài đang cầu xin cho các tín đồ chứng tỏ ở trên đất sự hiệp một trọn vẹn đang tồn tại ở trên trời giữa Đức Cha và Đức Con. Đôi khi tôi nghe người ta nói về việc “dựng nên” sự hiệp một trong Hội thánh. Nhưng chúng ta không bao giờ nói “dựng nên” sự hiệp một; Đức Chúa Trời đã làm rồi sự ấy trong Đấng Christ. Chúng ta cần phải “duy tr씓giữ lấy” sự hiệp một mà Đức Chúa Trời đã dựng nên rồi giữa vòng các tín đồ chơn thật. Đây là một lẽ đạo rất dễ nói về lý thuyết hơn là thể hiện qua cách thực hành.
“Joe phổ thông”
Khi tôi suy nghĩ về sự hiệp một trong Hội thánh, “Joe phổ thông” thoắt hiện đến trong lý trí tôi. Tên thật của ông ta là Joe Nast, nhưng ban trị sự gọi ông ta là “Joe phổ thông”. Joe là một người bạn cũ rất thân, là người đã có mặt quanh Hội thánh nầy từ ngày tôi mới đến đây. Joe đã ở vào cuối năm 70 tuổi, giờ đây ông đã qua đầu thập niên 80 (đấy chỉ là đoán tôi. Ông có thể già hơn thế) và sức khỏe của ông không được tốt, nhưng khi ông có thể đi tới đi lui, tôi thường đến với nhà thờ và tìm một cái gói nhỏ mà Joe đã chọn khi ông đến viếng các nhà thờ khác nhau. Trong những ngày đầu của tôi tại Hội thánh nầy, khi chúng tôi vẫn còn có những buổi thờ phượng tối Chúa nhật, Joe sẽ đến nghe tôi giảng luận Kinh thánh. Ông thường nói cho tôi biết, tôi là Mục sư Tin lành mà ông ưa thích nhất. Vào mùa thu năm 1989, chỉ mấy tuần lễ sau khi đến với Hội thánh nầy, tôi đã giảng dạy suốt Cựu Ước. Joe đã đến nghe tôi giảng gần như là mỗi tối Chúa nhật. Tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên tôi gặp ông. Không có giới thiệu nhiều, ông bước tới rồi trao cho tôi một mãnh giấy với một số thắc mắc ghi trên đó. Tôi vẫn còn nhớ câu hỏi đầu tiên. Đại loại là như thế nầy đây: “Chúa Jêsus phán: ‘Ta sẽ xây Hội thánh ta’. Nhưng những người Tin Lành bị chia ra thành 20.000 hệ phái và đảng phái khác nhau. Làm sao họ có thể là Hội thánh mà Chúa Jêsus đã xây dựng khi chỉ có một Giáo Hội Công Giáo LaMã?” Tôi mĩm cười khi tôi viết bài giảng nầy vì đây là phần giới thiệu của tôi với Joe Nast. Trải qua nhiều năm tháng, chúng tôi đã có nhiều cuộc tranh luận. Chúng tôi hiển nhiên trở thành bạn hữu rất thân, và tôi đã học được một việc rất hay về Giáo Hội Công Giáo từ sự quan sát rất kiên nhẫn của Joe. Trong nhiều năm gần đây (cho tới lúc ông rất yếu) Joe thường đến với Hội thánh nầy vào sáng Chúa nhật, và thậm chí đi với nhóm Golden Heirs của chúng tôi trên các chuyến linh trình của họ. Tôi phải nhận rằng câu hỏi của Joe đã thách thức tôi khi lần đầu tiên tôi đọc nó. Giờ đây, tôi già dặn hơn và thêm một ít khôn khéo hơn (hay ít nhất đã kinh nghiệm nhiều hơn), tôi nghĩ tôi sẽ trả lời thắc mắc ấy theo cách nầy: Mặc dù Giáo Hội Công Giáo dường như là một giáo hội, thực sự nó giống như một cây dù lớn bao che cho nhiều nhóm và bè phái, trong nhiều trường hợp họ có ít việc phải làm với nhau. Bạn có Mel Gibson, nhà bảo thủ cực đoan, là Công Giáo Latinh ở một đầu. Ở đầu kia bạn có Những nhà thần học tự do và chắc chắn bạn có được những người như Cha John Dominic Crossan của đại học đường DePaul, ông tự do đến nỗi ông không tin vào sự sống lại cụ thể, theo phần xác của Chúa Jêsus. Trong nhiều phương thức, người Công giáo dường như bị phân chia tồi tệ giống như người Tin Lành. Chắc chắn có một sự chia rẽ lớn lắm giữa người Công giáo bảo thủ và tự do dẫn tới một cuộc chiến cho tấm lòng và linh hồn của giáo hội của họ.
Nhưng tôi muốn để vấn đề lại ở đó. Như Joe đã chỉ ra, hoàn toàn chính xác tôi nói thêm, người Tin lành quả thật đã bị chia ra thành nhiều nhóm. Trong phần đáp ứng với những sự phân chia nầy, các hệ phái chính đã nổ lực gắn bó với nhau qua phong trào thống nhất các giáo phái. Ao ước nầy kết hợp các nhà thờ khác nhau, họ đến với nhau từ một sự thôi thúc rất cao thượng — "Chúng ta hãy gạt qua một bên những dị biệt và hình thành một giáo hội lớn”. Sau 40 năm thương thảo, phong trào chẳng tỏ ra gì được bao nhiêu. Kết quả chính hầu như là nhấn mạnh hoàn toàn vào giáo lý của Kinh thánh. Làm thế nào bạn gom những người Báptít, những người Luther và những người Giám Lý, và Trưởng Lão cùng thờ phượng với nhau trong một nhà thờ? Phần chú trọng vào giáo lý như thế nầy dẫn tới một “mẫu số chung thấp nhất” tiếp cận với tín điều. Và điều đó dẫn tới chỗ nhiều, nhiều người đến với nhau, họ tin càng lúc càng kém đi cho tới chừng ai nấy đều chẳng tin vào một thứ gì nữa hết. Đấy là cách bạn có được những vị Mục sư vui vẻ. Bạn chỉ thôi đừng quá mấu với lẽ thật cho tới chừng chẳng có gì còn lại. Nhưng khi mọi sự cần có để nắm bắt, không một ai có thể nói cái nào đúng cái nào sai, và tại sao không có quí Mục sư thoải mái chứ?
Thành phố bị phân tán nhiều nhất trong nước Mỹ
Nhưng đấy chưa phải là phần cuối của câu chuyện đâu. Tôi chỉ nhắc tới những người Công giáo và những người Tin lành dòng chính hầu cho tôi có thể nói đôi điều về những người Tin lành. Đấy chính là chúng ta đây — những Cơ đốc nhân bảo thủ, tin theo Kinh thánh. Chúng ta có một loạt nan đề riêng của chúng ta. Chúng ta nói chúng ta thích làm việc chung với nhau, và chúng ta nói chúng ta tin vào sự hiệp một, và chúng ta nói chúng ta muốn cầu nguyện chung với nhau, và chúng ta nói đó là một việc tốt khi các Hội thánh góp tài nguyên của họ lại với nhau để làm một việc gì đó lớn lao cho Nước Trời. Nhưng chúng ta thường nói nhiều loại sự việc đó hơn là chúng ta bắt tay vào làm. Tôi tin Chicago là thành phố bị phân tán nhiều nhất trong nước Mỹ. Chúng ta phân chia về chủng tộc, về kinh tế, về dân tộc, về địa lý, và trong nhiều phương thức, chúng ta bị phân chia về mặt thuộc linh nữa. Kết thân thể của Đấng Christ lại với nhau ở Chicago là một công việc có tầm cỡ của Hercule. Chúng ta đã học biết điều nầy thật là khó nhọc trong suốt chiến dịch của Luis Palau vào năm 1996. Sau khi hình thành một liên minh gần 2.000 nhà thờ, và sau khi chi ra gần 2 triệu USD, và sau khi làm việc, hoạch định và cầu nguyện trong 5 năm, bản thân chiến dịch gần như thất bại hoàn toàn. Mặc dù sự việc đã làm lay động cả thành phố, Chicago chẳng cần biết Luis Palau có còn ở đây hay không nữa! Tôi nói ra điều nầy, tuy nhiên sự thực cho thấy rằng có nhiều việc tốt lành đã xảy ra và có nhiều người đã đến với Đấng Christ. Nhưng sự kiện đã rơi vào chỗ thiếu mất sự trông mong. Khi nhìn lại, tôi tin chiến dịch đã thất bại vì các nhà thờ không thể hay sẽ không chịu làm việc chung với nhau.
Mục tiêu thực sự của tôi ở đây là không chỉ ngón tay vào người Công giáo, người Chính thống giáo, người Tin lành, hay vào bạn hữu Tin lành của tôi. Hết thảy chúng ta đều có các nan đề của mình. Chúng ta phải nhìn xem sự hiệp một của Hội thánh theo ánh sáng những những sự phân tán to lớn trong Vương quốc của Đấng Christ như thế nào đây? Cách tốt nhứt là hiểu cho rõ những dị biệt của chúng ta, chúng ta vẫn có một lập trường lớn chung. Chúng ta chia sẻ đức tin chung trong Kinh thánh là Lời của Đức Chúa Trời, về lẽ đạo Ba Ngôi Đức Chúa Trời, về sự ra đời bởi Nữ đồng trinh, về sự chết của Đấng Christ vì tội lỗi của chúng ta, và về sự sống lại từ kẻ chết của Ngài. Nói như thế không phải là chối bỏ hay hạ thấp những dị biệt trầm trọng đang tồn tại giữa những người tin lành và giáo hội Công giáo Lamã về nhiều vấn đề quan trọng rất đa dạng. Đây không phải là một sự thỏa hiệp để chú trọng vào những lãnh vực đức tin chung ngay cả khi giữ lấy những lẽ đạo có tính phân biệt của chúng ta. Chúng ta sẽ lấy làm vui sướng khi chúng ta tìm thấy nhiều người khác họ dự phần vào đức tin của chúng ta ở những điểm nhất định — thậm chí khi chúng ta khăng khăng vào lẽ thật quan trọng nói tới sự xưng công bình chỉ bởi một mình đức tin truyền xuống cho chúng ta trước tiên từ những nhà Cải Chánh — và hoàn toàn từ Tân Ước.
Vì vậy, khi chúng ta nói Hội thánh là một, thì chúng ta đang nói tới Hội thánh nào vậy? Chúng ta có ý nói tới Hội thánh theo ý nghĩa của Tân Ước – hội chúng của những người đã được kêu gọi ra khỏi thế gian để bước theo Đức Chúa Jêsus Christ. Người nào thực sự tin nơi Ngài thực sự là thuộc viên của Hội thánh, bất chấp mối quan hệ hệ phái của họ. Chúng ta mở rộng mối tương giao Cơ đốc với tất cả những tín hữu ở khắp mọi nơi vì chúng ta là thuộc viên trong gia đình của Đức Chúa Trời bởi đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ. Không phải ai tham gia vào trong một Hội thánh — bất kỳ Hội thánh nào — đều được sanh lại đâu. Có nhiều người đã nếm trải các động lực của tôn giáo. Một số chưa bao giờ hiểu rõ Tin lành. Nhiều người khác ưa thích một tôn giáo của các việc lành hơn thay vì tin lành ân điển. Có những thuộc viên Hội thánh chưa được cứu trong mỗi nhà thờ và từng hệ phái. Nhưng Chúa biết rõ bầy chiên của chính Ngài. Ngài gọi đích danh họ, họ nghe theo tiếng của Ngài, và họ bước theo Ngài (Giăng 10:27). Chúa biết kẻ thuộc về Ngài (II Timôthê 2:19). Ngài đang xây dựng Hội thánh của Ngài từng người từng lúc khi có nhiều người nam người nữ rời bỏ thế gian nầy và bắt đầu bước theo Ngài. Hội thánh ấy — số lượng đầy đủ các tín hữu thật — một con số chỉ có Đức Chúa Trời biết — là “Hội thánh duy nhứt” mà Chúa Jêsus đã xây dựng trong 2.000 năm.
Hầu hết chúng ta đều quan tâm tới việc chối bỏ ngày càng tăng về các giá trị Cơ đốc trong xã hội của chúng ta. Chúng ta dường như đang tự động rơi xuống một cái hố hỗn loạn xã hội. Nhưng trong áp lực của những ngày nầy, Cơ đốc nhân đã bắt đầu nhận ra rằng chúng ta có thể bất đồng trước các vấn đề phụ bao lâu chúng ta đứng với nhau trên những điều quan trọng của lẽ thật. Có lẽ chúng ta sẽ trở lại với việc trở thành “Cơ đốc nhân trước hết” và mọi sự khác đều là phụ thuộc.
Cơ đốc nhân trước hết — và Luther là phụ thuộc.
Cơ đốc nhân trước hết — và Báptít là phụ thuộc.
Cơ đốc nhân trước hết — và Giám Lý phụ thuộc.
Cơ đốc nhân trước hết — và Hội thánh nhà là phụ thuộc.
Chúa Jêsus đã phán: “Ta sẽ xây dựng Hội thánh ta, và các cửa âm phủ sẽ chẳng thắng được Hội đó”. Đức Chúa Trời có một đại gia đình — và nếu bạn nhìn biết Chúa Jêsus, nếu bạn đã tin cậy Ngài làm Chúa và Cứu Chúa của bạn — bạn là chi thể trong gia đình đó. Có nhiều điều nữa tôi sẽ nói về Hội thánh trong bài giảng kế tiếp, nhưng đây là chỗ mà chúng ta phải khởi sự. Hội thánh là một vì Chúa Jêsus là cái nền. Nếu bạn được xây trên nền đó, bạn là chi thể của một Hội Thánh thật duy nhứt. Amen.

Bài # 15: "Tôi Tin Thánh Linh"



Bài Tín Điều Các Sứ Đồ
Khi Đức Chúa Trời Đến Gần

“Tôi Tin Thánh Linh”
Giăng 7:37-39
“Ngày sau cùng, là ngày trọng thể trong kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus ở đó, đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống. Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy. Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ Đức Thánh Linh chưa ban xuống, vì Đức Chúa Jêsus chưa được vinh hiển” (Giăng 7:37-39).
Đây là giờ phút đáng xúc động nhất. Đây là ngày cuối cùng, ngày long trọng nhất, ngày thứ tám của kỳ lễ sau cùng trong năm, Lễ Lều Tạm. Lễ nầy thường diễn ra vào đầu tháng Mười, vào thời điểm mùa gặt. Và đây là kỳ lễ quan trọng. Trong bảy ngày người Do thái đã sống trong các túp lều dựng tạm bằng lá cây, bằng những nhánh cây to. Đây là cách tưởng nhớ của họ về 40 năm tổ phụ họ còn lang thang trong sa mạc. Đấy là thời kỳ dài, lắm nhọc nhằn và toàn bộ một thế hệ đã ngã chết trong khi đợi vào trong Đất Hứa. Tại sao phải kỷ niệm thời kỳ khó nhọc đó? Vì mỗi ngày, thậm chí trong đồng vắng, Đức Chúa Trời đã tiếp trợ cho mana và chim cút. Mặc dù họ sống trong sa mạc với cát, hơi nóng, muỗi mòng và sự hoang vu ở chung quanh họ, Đức Chúa Trời không hề vơi đối với họ. Họ khám phá ra Đức Chúa Trời có thể sửa soạn một bữa tiệc trong đồng vắng và nuôi họ sống trong 40 năm. Vì thế, trong bảy ngày mỗi năm, người Do thái đi lên thành Jerusalem tổ chức lễ kỷ niệm, và nhớ đến sự nhơn từ của Đức Chúa Trời.
Nhưng Đức Chúa Trời không những đã ban đồ ăn cho họ trong đồng vắng, mà Ngài còn ban nước uống cho họ nữa. Khi dân sự bị khát và chẳng có nước, họ tố cáo Môise về việc đưa họ vào trong đồng vắng để bị chết khát. Đức Giêhôva bảo Môise cầm lấy cây gậy ông đã sử dụng chia Biển Đỏ ra làm hai mà đập vào hòn đá tại Hô-rếp. Khi ông làm theo, nước tràn tuôn ra. Loại nước sạch, tươi mát, trong trẻo có dư cho tất cả mọi người. Đây là một phép lạ đáng kể — thậm chí còn lớn lao hơn nữa vì dân chúng đã lằm bằm nghịch cùng Đức Chúa Trời — và Ngài đã tiếp trợ cho họ cho dù là thế nào đi nữa. Vì vậy, mỗi ngày trong bảy ngày suốt Lễ Lều Tạm, thầy tế lễ sẽ tổ chức một đám rước từ Đền Thờ đến ao Silôê. Ở đó ông hốt đầy nước trong cái bình bằng vàng rồi đưa nó trở lại với Đền Thờ. Trong khi ông đổ nước ra ở phía Tây của bàn thờ, ca đoàn gồm 4.000 ca viên kèm theo 287 nhạc cụ bắt đầu trổi tiếng hát lên. Dân chúng reo mừng và hát Thi thiên 118, thiên nầy kết thúc với mấy lời nầy: “Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời”. Thầy tế lễ lặp lại nghi thức ấy mỗi ngày trong bảy ngày — và dân sự cứ reo mừng luôn trong mỗi lần như thế. Khi ngày thứ tám đến, mọi việc sẽ khác đi. Đây là ngày lễ sau cùng của cả năm. Đúng đây là một ngày lễ trọng đại nhất. Vào ngày nầy, có một sự hội hiệp long trọng, nhưng thầy tế lễ không đi tới ao Silôê để lấy nước nữa.
Vào ngày ấy — ngày long trọng nhất của lỳ lễ sau cùng — là ngày chẳng có nước — Chúa Jêsus đứng dậy phán với đoàn dân đông đang bao quanh Đền Thờ. Kỳ thực, Ngài đã đứng lên để lôi cuốn sự chú ý của họ một khi các rabi Do thái theo lệ thường thì họ ngồi lúc họ giảng dạy. Cái chạm của lời Ngài trong ngày lễ đặc biệt nầy rất là lớn lao. Vào chính cái ngày không có nước, Chúa Jêsus đã phán: “Nếu ai khát, người ấy hãy đến cùng ta mà uống”. Người Do thái hiểu Ngài ngay lập tức. Đối với Chúa Jêsus nói ra mấy lời nầy vào thời điểm ấy là có ý nói: “Ta là hòn đá tràn tuôn nước ra trong đồng vắng. Ta là nguồn thật của nước hằng sống. Hãy đến cùng Ta, tin theo Ta, thì Ta sẽ ban cho các ngươi nước sống đến từ trời”.
Với bấy nhiêu đó làm nền, tôi muốn chúng ta xem xét mấy lời nầy có cần cho chúng ta hôm nay. Chúng thốt ra một sứ điệp tràn đầy hy vọng cho một thế giới đang khao khát.
I. Chúng ta đến với Đấng Christ vì chúng ta khát.
Hầu hết chúng ta đều biết rất ít về việc bị khát. Nếu chúng ta bị khát, chúng ta bước tới tủ lạnh rồi rót một ít nước hay một chút sữa hoặc một ít trà hay lon coca. Chúng ta đến gần cái vòi rồi vặn nó ra, và nếu chúng ta không đóng lại được, nước sẽ cứ chảy ra 24 giờ trong một ngày. Vì vậy, hầu hết chúng ta thực sự hiếm khi trải nghiệm cơn khát. Cách đây mấy năm Gatorade tự khích lệ mình với khẩu hiệu nầy: “Gatorade — cho cơn khát cực kỳ của cơ thể”. Một bảng quảng cáo cho thấy một vận động viên ở cuối cuộc đua, đã băng qua mức đến hoàn toàn xuôi hai cánh tay mình xuống tận đầu gối, cơ thể anh ta đẩm mồ hôi. Bảng quảng cáo gửi một thông điệp nói rằng có khát lắm thì Coca-Cola không thể làm thỏa mãn đâu. Chúng ta biết rõ một người có thể sống trong nhiều tuần lễ mà chẳng có đồ ăn, nhưng người ấy chỉ có thể sống vài ngày thôi nếu không có nước. Một khi cơn khát bắt lấy, nó trở thành một con quỉ gầm rống lên và mọi sự bạn có thể nghĩ tới là tìm kiếm một vài giọt nước. Và khi cơn khát kềm chế một người, bạn sẽ làm bất cứ gì, bất cứ điều gì, để kiếm cho kỳ được vài giọt nước. Bạn sẽ nói dối hay lừa đảo hoặc trộm cắp hay giết người nếu cần thiết.
Bên trong chúng ta có một cơn khát mà chẳng một thứ gì trong đời nầy có thể làm cho thỏa mãn. Hết thảy chúng ta đều có một “khoảng trống do Đức Chúa Trời dựng nên” mà chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm cho đầy tràn. Có người khao khát về sự thỏa mãn tình dục, vì vậy họ nhảy từ mối quan hệ nầy sang mối quan hệ khác. Có người nghĩ việc thăng tiến sự nghiệp là chìa khóa cho hạnh phúc, vì vậy họ nhảy từ việc làm nầy sang chỗ làm khác. Những người chồng bỏ vợ mình để lấy người đàn bà khác, và họ vẫn không thấy có hạnh phúc. Những người vợ bỏ chồng mình để lấy người đàn ông khác, thì cũng vậy, họ chẳng thấy hạnh phúc đâu cả. Một số người trong chúng ta nghiện adrenalin, luôn luôn chạy tới chạy lui, tìm kiếm cái “phê” kế tiếp, cuộc mạo hiểm lớn nào đó phải tham dự, trận chiến lớn nào đó phải đánh, cố gắng làm phu phỉ cơn bốc của “tấm lòng hoang dại” mà chúng ta đang cảm thấy ở bên trong. Nhưng bản thân cuộc mạo hiểm không kéo dài lâu. Cuộc sống trở lại bình thường và chúng ta lấy làm lạ: “Bây giờ, chúng ta làm gì đây?” Có người khao khát địa vị, nhiều người khác khao khát quyền lực, nhiều người khác nữa khao khát nổi tiếng hay giàu có hoặc các mối quan hệ để rót cho đầy nổi trống vắng ở bên trong.
· Có sự khát khao về trí tuệ — chúng ta muốn biết lẽ thật.
· Có sự khát khao về lương tâm — chúng ta đã phạm tội và cần ơn tha thứ.
· Có sự khát khao về tấm lòng — chúng ta tìm kiếm hạnh phúc và không biết chỗ để tìm ra nó.
Chúng ta đến với Đấng Christ vì chúng ta bị khát, và cho tới chừng nào chúng ta nhìn thấy nhu cần của mình rồi kêu la xin cứu giúp, chúng ta sẽ không còn đến nữa. Như Chúa Jêsus đã phán, chỉ có kẻ đau mới cần đến thầy thuốc. Chỉ có kẻ khát mới cần được thỏa thích. Chỉ có kẻ bị mất mới cần được tìm gặp. Chỉ có kẻ khát mới cần uống nước hằng sống.
II. Khi chúng ta đến với Đấng Christ, cơn khát của chúng ta sẽ được dập tắt.
Được cứu quả là rất đơn giản làm sao ấy. Nó giống như uống một ly nước lạnh vào cái ngày oi bức. Hãy chú ý những động từ mà Chúa Jêsus sử dụng: Đến … uống … tin. Hết thảy chúng ta đều biết rõ những từ nầy nói gì rồi. Chúa Jêsus sử dụng những từ đơn giản hầu cho mọi người đều có thể hiểu được các tin tức tốt lành. Tuần nầy tôi có nhận được một bức thư từ một tù phạm ở Kansas có tên là Bennie gửi đến. Anh ta đã nhận được một quyển sách của tôi, Cái Neo Cho Linh Hồn, và đã gửi thư cho tôi sau khi anh ta đã đọc nó. Đây đúng là bức thư mà anh ta đã viết:
“Ngày 2 tháng 5 năm 2004
“Hello Mục sư Ray,
“Trước tiên, xin Đức Chúa Trời chúc phước cho ông. Tôi nguyện rằng bức thư nầy đến với ông trong lúc ông vui khỏe nhất. Còn tôi, tôi rất được phước, thưa ông, tôi mới vừa đọc xong quyển sách “Cái neo cho linh hồn” và hãy tin tôi, tôi là một mớ lộn xộn trong cả cuộc đời tôi, vợ con tôi đã được cứu: “hạng người tin kính”. Tôi là một người cha người chồng giống như mớ bòng bong, song sau khi đọc xong sách của ông — Ồ, tôi ở trong tù vì ma túy và lãnh lấy 58 tháng, số hiệu của tôi là 8-03-07, nhưng sau khi tôi đọc sách của ông, tôi đã xin Chúa Jêsus ngự vào đời sống tôi, và tôi không biết điều gì xảy ra, song tôi biết điều đó là tốt lành. Vì vậy, cảm ơn ông về mọi sự và tôi muốn xin ông giúp đỡ tôi hiểu biết thêm về Đấng Christ.
“Mục sư Ray ơi, tôi thực sự muốn nghe ông giảng lắm.
“Cảm ơn.
“Bennie”
Há đây chẳng phải là bức thư tuyệt vời sao? Sự thành thực thẳng thắn về quá khứ tội lỗi của anh ta đã chạm đến tôi, nhưng đây là phần tôi rất thích: “tôi không biết điều gì xảy ra, song tôi biết điều đó là tốt lành”. Đấy là lời lẽ của một người đã tìm được Nước Hằng Sống; anh ta không biết phải giải thích như thế nào đấy thôi.
E rằng bạn nghĩ điều nầy có việc phải làm với chỗ đứng của anh ta trong cuộc sống, hay thiếu học vấn, hoặc vì anh ta đang ở trong tù, cho phép tôi chia sẻ một phần bức thư mà tôi đã nhận được mấy ngày nay. Bức thư ấy gửi đến từ một người đã đến nhóm lại ở đây trong vài tháng. Giờ đây đời sống của người ấy đã thay đổi thật triệt để và đây là những gì ông ấy nói:
“Mục sư Ray,
“Hôm nay tôi viết thư cho ông để chia sẻ với ông thể nào Hội Thánh đã làm thay đổi đời sống tôi. Cách đây gần hai năm vì những lý nào đó không biết, tôi quyết định đến với Hội Thánh vào một sáng Chúa nhựt. Tôi thích những gì mình đã nghe và thấy rồi bắt đầu đến nhóm thật đều đặn.
“Khi ấy, một việc gì đó đã xảy ra trong đời sống của tôi thật rất khác biệt. Tôi tin như thế khi tôi phát triển một mối quan hệ riêng tư với Đức Chúa Jêsus Christ. Cái gì đó thình lình về mặt thuộc thể chẳng là vấn đề và tôi có sự bình an ở trong lòng mà tôi chưa hề có trước đây.
“Phần còn lại là lịch sử. Tôi bắt đầu đến nhóm mỗi Chúa nhựt và vì cớ sự khích lệ của ông, tôi đã là thuộc viên của thần học viện ABF, ở đây tôi có nhiều bạn mới và đã tiếp thu được nhiều việc mới.
“Tôi không thể giải thích mọi sự nầy đã xảy ra như thế nào, nhưng tôi rất biết ơn vì điều đó đã xảy ra”
.
Tôi thích câu nói sau cùng đó — “Tôi không thể giải thích mọi sự nầy đã xảy ra như thế nào”. Nghe thì giống như câu mà Bennie đã nói — “tôi không biết điều gì xảy ra, song tôi biết điều đó là tốt lành”. Theo một ý nghĩa, nó chẳng thành vấn đề trong trường hợp bạn ở trong tù hay ở bên ngoài vì tẻ tách đối với Đấng Christ, hết thảy chúng ta đều ở trong cùng một chiếc thuyền. Hết thảy chúng ta đều đói khát và tìm kiếm trong vô vọng điều chi đó mà chúng ta hoàn toàn không thấy được. Thế rồi một ngày kia, chúng ta gặp gỡ Chúa Jêsus, và thình lình mọi sự đổi ra khác hết.
Đây là một dấu hiệu của sự biến đổi — chúng ta được thay đổi cách sâu sắc bởi Chúa Jêsus và chúng ta nhìn biết sự ấy. Đấy là ý nghĩa của “sông nước sự sống sẽ chảy ra từ bên trong người”. Bản Hylạp sát nghĩa thì đọc là “ra từ bụng người”, ý nói ra từ chỗ sâu thẳm nhất, ngai của mọi cảm xúc. Khi chúng ta nói tới việc “cười bễ bụng”, chúng ta có ý nói tới cùng một việc ấy. “Cười bễ bụng” đến từ chỗ sâu thẳm bên trong chúng ta. Sự thay đổi sâu sắc mà Chúa Jêsus chạm đến chúng ta ngay cốt lõi của sự chúng ta là ai. Bạn sẽ nhìn biết mình đã được biến đổi khi bạn đến với Chúa Jêsus và một việc gì đó xảy ra cho bạn mà bạn không thể lý giải đủ được. Sự biến đổi thật còn hơn cả việc đi lên cầu thang, thốt ra lời cầu nguyện, hay giơ tay lên trời nữa. Sự biến đổi thật có ý nói rằng Đức Chúa Trời Toàn Năng ngự vào đời sống của bạn, trong phần sâu thẳm nhất, riêng tư nhất, rồi lập nơi ở bên trong đó. Bạn có thể thực sự nói: “Tôi đã được biến đổi”, khi bạn nhìn biết rằng Đức Chúa Trời đã làm một việc gì đó cho bạn mà chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm được mà thôi. Cho phép tôi nói theo cách khác: Nếu mọi sự trong đời sống của bạn có thể được giải thích ngoài Đức Chúa Trời, thì bạn cần Đức Chúa Trời để làm gì? Sự biến đổi thật vượt trổi hơn cả tôn giáo — đấy là lý do tại sao hạng người tôn giáo thường là người cuối cùng được biến đổi. Hạng người tôn giáo tin cậy vào tôn giáo của họ — nhưng đời sống của họ không hề được thay đổi. Họ đi nhà thờ, nếm trải nhiều biến động, có thể họ đã dâng lên nhiều lời cầu nguyện và nói ra nhiều lời lẽ đúng đắn, nhưng họ có một tấm lòng Sahara — oi bức, nứt nẻ, trơ trụi, trống rỗng.
Khi Chúa Jêsus ngự vào, nước hằng sống liền tuôn ra. Và chúng cứ giữ việc chảy ra.
III. Khi cơn khát của chúng ta được dập tắt, chúng ta trở thành sông nước sự sống cho nhiều người khác.
Ở đây, chúng ta có toàn bộ dòng sự sống Cơ đốc đặt ở trước mặt chúng ta.
Chúng ta kêu la với Đức Chúa Trời.
Ngài ban cho chúng ta Nước Sống.
Chúng ta ban Nước Sống cho tha nhân.
Hay chúng ta có thể nói theo cách khác:
Tôi khát.
Tôi không còn khát nữa.
Tôi thỏa thích.
Tôi no đầy.
Hay chúng ta có thể nói đơn giản hơn:
Từ Đức Chúa Trời … đến với chúng ta … đến với nhiều người khác.
Điều chi khởi sự với Đức Chúa Trời, tràn xuống chúng ta, và rồi từ chúng ta chảy ra với người khác. Nước hằng sống tuôn chảy từ Đức Chúa Trời vào trong chúng ta, và rồi từ chỗ sâu thẳm trong chúng ta (từ cái “bụng” của sự sống), dòng sông tuôn chảy ra từ chúng ta vì ích cho nhiều người khác. Quan niệm về sông nước sự sống có thể tìm gặp ở nhiều chỗ khác nhau trong Cựu Ước, kể cả Êsai 44:3: “vì ta sẽ rót nước trên kẻ khát, cho suối chảy nơi đất khô. Ta sẽ đổ Thần ta trên dòng dõi ngươi, và phước lành ta trên những kẻ ra từ ngươi”. Ở câu 39, Chúa Jêsus nói cho chúng ta biết nước hằng sống chính là Đức Thánh Linh. Điều đó gắn với Bài Tín Điều Các Sứ Đồ, ở đây chép: “Tôi tin Thánh Linh”. Và Đức Thánh Linh làm gì mới được chứ? Ngài đem Đức Chúa Trời đến với chúng ta. Khi Chúa Jêsus còn ở trên đất, danh Ngài là Emmanuên — Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Giờ đây, Ngài đã trở về trời, Đức Thánh Linh ngự đến và đem Đức Chúa Trời đến cùng chúng ta. Giờ phút chúng ta tin theo Chúa Jêsus, Đức Thánh Linh mở ra sông nước sự sống và một dòng sông nước sống bắt đầu tuôn chảy từ bên trong chúng ta.
Nhưng Đức Chúa Trời không hề ban ơn phước của Ngài chỉ để tích trữ đâu. Ngài ban ơn phước của Ngài cho chúng ta để chúng ta có thể chia sẻ chúng với nhiều người khác. Đây là một câu nói đơn giản giúp cho bạn suy nghĩ về lẽ thật nầy: Đức Thánh Linh đem Đức Chúa Trời đến với chúng ta để chúng ta đem Đức Chúa Trời đến cho nhiều người khác. Dòng sông tuôn chảy từ chúng ta đến với tha nhân. Một tín đồ chơn thật trong Đấng Christ không phải là người chỉ biết đến cái tôi của mình. Người nhũ thầm: “Ta đã được phước lớn. Ta phải chuyển các ơn phước nầy đến cho nhiều người khác. Chính mình ta phải giúp cho họ”.
Đức Chúa Trời ban cho tôi điều gì, tôi ban bố điều đó ra. Nếu đó là tiền bạc, thì nó chẳng phải là của tôi đâu. Nếu đó là thì giờ của tôi, tất cả thì giờ ấy đều thuộc về Đức Chúa Trời cả. Nếu đó là thứ mà tôi có, tôi có thể dâng nó đi vì tôi chẳng có gì hết; Đức Chúa Trời làm chủ mọi sự ấy. Nếu đó là một bàn tay giúp đỡ, tôi có thể làm việc ấy vì Đức Chúa Trời đã với xuống và trợ giúp cho tôi.
Điều Luật Vàng
Đàng sau nguyên tắc nầy là lẽ thật mà tôi gọi là Điều Luật Vàng: “Hãy làm cho người khác điều chi Đức Chúa Trời đã làm cho bạn”. Có phải Đức Chúa Trời đã chúc phước cho bạn không? Thế thì hãy làm phước cho tha nhân. Có phải Đức Chúa Trời đã tử tế với bạn không? Thế thì hãy tử tế với tha nhân. Có phải Đức Chúa Trời đã tỏ ra ân điển với bạn không? Thế thì hãy tỏ ra ân điển với tha nhân. Có phải Đức Chúa Trời đã tha thứ cho bạn? Thế thì hãy tha thứ cho người khác. Hãy trở thành sống nước hằng sống cho linh hồn nào khao khát trong tuần lễ nầy. Khi tôi đang lo soạn bài giảng nầy, một giai điệu Cơ đốc xưa thoạt đến trong trí tôi. Bài hát ấy đã có từ lâu rồi. Tôi nghĩ mình đã nghe giai điệu ấy lần đầu tiên khi còn ở tuổi thiếu niên. Giai điệu nầy còn nghe “sắc bén” lắm. Ngày nay, chúng ta ít hát bài ca ấy. Giai điệu ấy như thế nầy đây:
Giống như tia lửa nhỏ nhóm ngọn lửa lên,
Rồi ai nấy đều ấm áp trong hơi nóng của nó;
Hơi ấm ấy giống như tình yêu của Đức Chúa Trời,
Bạn đã từng trải nghiệm tình yêu đó,
Bạn rải tình yêu của Ngài cho mọi người
Bạn muốn chuyển nó đi.
Sự ấy kết thúc với lời nầy:
Tôi sẽ hô lên lớn tiếng từ trên núi —
NGỢI KHEN ĐỨC CHÚA TRỜI!
Tôi muốn thế gian nhìn biết
Chúa yêu thương đã đến với tôi
Tôi muốn chuyển tình yêu ấy đi.
Đấy chẳng phải là một mảng nhạc hay và chẳng ai lộn nó với bài “A Mighty Fortress” hay “Lớn Bấy Duy Ngài”, nhưng nó chứa một lẽ thật đầy năng quyền — bạn rải tình yêu của Ngài cho mọi người, bạn muốn chuyển tình yêu ấy đi. Đấy là những gì Đức Thánh Linh đang thực hiện khi Ngài ngự vào đời sống của bạn. Đời mới sôi sụt từ bên trong và bạn trở thành sông nước sự sống.
Bước thứ nhứt là đến với Chúa Jêsus. Mọi sự đều rất tư riêng. Chúa Jêsus phán: “Nếu ai khát, hãy đến cùng Ta”. Ngài không nói: “Nếu có ai khát, hãy khiến người ấy đền nhà thờ”. Hay “hãy đưa người đến với Mục sư”. Hoặc “dẫn người lên cầu thang hoặc ký lên tấm thiệp”. Hay “bảo người học giáo lý Kinh Thánh”. Chúa Jêsus mời thế giới đang khao khát đến với Ngài. Cơ đốc giáo là Đấng Christ. Đây chẳng phải là tôn giáo; đây là mối quan hệ.
Những tin tức tốt lành cho tội nhân
Không những là lời mời tiêng tư, mà còn là lời mời chung hết cả. “Nếu ai khát”. Đây là những tin tức tốt lành cho kẻ tồi tệ nhất trong hạng tội nhân. Đấng Christ chẳng xua ai đi đâu. Đây là những tin tức tốt lành dành cho hạng người đồng tính luyến ái đã bị bẫy trong tội lỗi của họ. Đây là những tin tức tốt lành dành cho kẻ giết người, kẻ tà dâm, kẻ trộm cướp và hạng người lừa đảo. Đây là những tin tức tốt lành dành cho những người nam người nữ có tánh giận dữ. Đây là những tin tức tốt lành dành cho những linh hồn thất bại, thất vọng, không thỏa lòng đang cảm thấy như thua cuộc. Đây là những tin tức tốt lành dành cho nhửng kẻ bị ma túy, rượu chè hủy hoại. Đây là những tin tức tốt lành dành cho hạng tội phạm — và cho tất cả những ai bị bẫy trong ngục tù tội lỗi. Đây là những tin tức tốt lành dành cho tội nhân tệ hại nhất trong hàng tội nhân. Nếu bạn đang khát, hãy đến mà uống Nước Hằng Sống.
Hãy chú ý Chúa Jêsus đang đứng kêu la với một giọng lớn tiếng. Ngài nài nĩ dân chúng hãy đến mà uống nước hằng sống. Bạn sẽ nghĩ đến thế giới hư mất đang kêu la cầu xin cứu giúp, nhưng chính mình Chúa đang nài nĩ với chúng ta. Đây là một việc lạ lùng. Chúng ta là hạng người chọn chết mất. Còn Đức Chúa Trời là Đấng nài nỉ với chúng ta nên sống. Ngài không nói: “Hãy tẩy sạch lòng đi tồi ta sẽ ban cho người nước sống”. Cảm tạ Đức Chúa Trời, chúng ta có thể đến với bẩn thỉu lọ lem của tội lỗi chúng ta, và chính nước hằng sống sẽ tẩy sạch cho chúng ta.
Thêm một lời khác nữa là xong phần bài giảng của tôi. Từ ngữ “sông nước” là số nhiều. Không phải một dòng sông — mà nhiều dòng sông của nước sống sẽ tuôn tràn ra từ chúng ta. Hãy suy nghĩ tới sông Nile, sông Danube, sông Amazon, sông Mississippi, sông Ganges cả thảy cộng thêm nhiều con sông lớn khác nữa. Mọi dòng sông đó dư dật không hề cạn kiệt. Hãy đến với Chúa Jêsus và những dòng sông bắt đầu tuôn chảy vì tất cả các dòng sông đều tuôn chảy ra từ Ngài.
Một bà cụ, một thánh đồ chơn thật của Đức Chúa Trời, đã qua đời. Trong nhiều năm bà đã nghiên cứu Kinh Thánh, học thuộc lòng nhiều câu Kinh Thánh lắm. Khi sức khỏe bà vơi đi, trí nhớ của bà loạng choạng và bà không thể nhớ hết các phân đoạn Kinh Thánh mà bà từng được lòng nhắc nhở. Bà trải qua nhiều ngày ngồi trên cái ghế đá trong gian phòng đầy ánh nắng mặt trời, bà ráng nhớ lại như có thể. Gần đến cuối cùng, bà chỉ có thể nhớ được câu: “vì biết ta đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó” (II Timôthê 1:12). Bà mất đi từng chút một khả năng nói, thậm chí dù là một câu thôi. Hiển nhiên là bà chỉ có thể lặp lại một mệnh đề — và bà đã nhắc lại mệnh đề ấy thật nhiều lần — "giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó”. Trong mấy ngày cuối của bà, gia đình bà đã nhìn thấy môi miệng bà mấp máy. Bà đã lặp lại điều gì đó thật nhiều lần. Khi họ nghiêng tai qua nghe, họ có thể nghe tiếng bà thì thào một từ: “Ngài … Ngài … Ngài”. Đến cuối cùng bà đã mất hết toàn bộ Kinh Thánh trừ ra một từ ấy, nhưng trong một từ ấy bà đã có cả Kinh Thánh. Mọi sự trong Kinh Thánh đều nói về Ngài.
Sự cứu rỗi luôn luôn là riêng tư. Hãy đến với Chúa Jêsus. Hãy tin nơi Ngài. Hãy tin cậy Ngài. Chúa Jêsus phán: “Nếu ai khát, hãy đến cùng Ta”. Đây không những là một lời dành cho những ai không có Chúa Jêsus; mà còn là một lời cho hết thảy chúng ta là những người nhận biết Ngài. Ngài phán với mỗi một người chúng ta: “Hãy đến cùng ta. Ngươi thế nào hãy đến thế ấy. Hãy đến, đừng chậm trễ. Đừng để một phút nào khác lo uống những dòng suối bị nhiễm bẫn. Hãy đến, Ta sẽ ban cho ngươi nước sống”.
Tôi đã nghe giọng nói của Chúa Jêsus: “Nầy, ta ban rời rộng nước sống; kẻ nào khát, hãy cúi xuống, hãy uống mà sống”.
Tôi đã đến với Chúa Jêsus, và tôi đã uống dòng nước ban sự sống ấy;
Cơn khát của tôi đã được dập tắt rồi, linh hồn tôi yên nghỉ, và giờ đây tôi đang sống ở trong Ngài.
Bạn đang khao khát điều chi đó tốt đẹp hơn, có phải không? Có phải bạn có cơn khát ở bề trong sâu sắc muốn có một đời mới không? Có phải linh hồn bạn bị nứt nẻ và khô hạn không? Bạn không cần phải ở lại với tư thế đó mà chi. Hãy đến với Chúa Jêsus và những dòng sông sẽ bắt đầu tuôn chảy.
Đúng là Đấng Christ!
Đúng là Cứu Chúa!
Đúng là lời mời gọi đáng kinh ngạc!
Nếu bạn đang khát, hãy đến ngay đi!

Bài # 14: "Đấng Christ Sẽ Tái Lâm"


Bài Tín Điều Các Sứ Đồ
Đấng Christ Sẽ Tái Lâm
“Từ đó, Ngài sẽ trở lại để xét đoán kẻ sống và kẻ chết”
Giăng 14:1-3; II Phierơ 3:3-10
Bạn không bao giờ biết bạn sẽ tìm gặp lẽ thật thuộc linh ở chỗ nào!?! Cách đây mấy ngày, tôi có nhận một bức thư gửi đến từ Mary Jo Lynch. Cách đây 35 năm, bà đã sống với chồng là Dudley ở thị trấn quê hương tôi là Russellville, Alabama. Dudley Lynch làm quản nhiệm một Hội Thánh Trưởng Lão nhỏ xây dựng gần khu mỏ nằm trên đường siêu tốc 24 giữa Russellville và Belgreen. Đây là ngôi nhà thờ xây bằng gạch ở một thị trấn nhỏ. Tôi nhớ có đến dự mấy buổi thờ phượng ở đó một vài lần. Tôi nghĩ nếu họ có 60 người thì hôm ấy được xem là buổi nhóm đông nhất rồi. Dudley đã lao động với những việc làm phụ để giúp đỡ cho gia đình ông. Vào một thời điểm kia, ông đã mở một cửa hiệu bán bánh sandwich kế bên Hayes Oldsmobile, ở đây họ bán loại hamburger lớn nhứt ở nước Mỹ — bánh Lynchburger. Tôi nhớ có ngồi bên quầy trao đổi về Kinh Thánh trong khi Dudley lo chu tất các hóa đơn đặt hàng. Đấy là phần khởi đầu cho sự hiểu biết lẽ đạo Kinh Thánh của tôi. Tôi không hề nhìn thấy ông mà không có một nụ cười trên gương mặt.
Dudley đã qua đời vào năm 1992. Mary Jo đã viết một bức thư ngắn sau đó. Tôi không nghe nói gì về bà mãi cho tới tuần lễ nầy. Giờ đây, bà đã 71 tuổi và đang sống gần Lexington, Kentucky. Bà đã viết thư cho tôi vì khi tìm kiếm trong thư viện của nhà thờ, bà tìm thấy một quyển sách của tôi. Vì thế, bà viết thư chào thăm, để nói cho tôi biết con trai của bà là Paul và con gái là Joanna đang sinh sống thể nào, và ở cuối thư bà thêm vào mấy suy nghĩ nầy:
“Với bất cứ một sự phân biệt nào mà tôi có vào thời điểm nầy trong cuộc đời, đối với tôi dường như đây là thời điểm tốt nhứt trong mọi thời điểm và tệ hại nhất trong mọi thời điểm. Thời điểm tốt nhứt, vì Hội Thánh thật của Đức Chúa Trời còn sống động và mạnh giỏi và Đức Thánh Linh đang sử dụng một số phương thức không ngờ được để lôi kéo sự chú ý của hạng người bị hư mất ở chung quanh chúng ta. Ai dám nghĩ rằng Mel Gibson sẽ thực hiện một cuốn phim khiến cho nhiều người một là lo phủi bụi khỏi quyển Kinh Thánh mà họ đang có, hoặc kiếm mua một quyển rồi đọc lấy đọc để câu chuyện mà Kinh Thánh nói tới sự Chúa chịu đóng đinh trên thập tự giá?
Còn thời điểm tệ hại nhứt, vì không bao giờ trong lịch sử của xứ sở chúng ta thấy sự ổn định của gia đình, đặc biệt là hôn nhân, đã bị đe dọa như hiện nay. Tôi hy vọng và nguyện rằng sẽ có một phong trào quay trở lại với những giá trị Cơ đốc và với một sự hiểu biết Đức Chúa Trời trong xã hội nói chung. Nhưng xin là đừng quá trễ đối với sự ấy. Tôi mới cảm nhận được điều nầy, là Đức Chúa Trời đang đổ ra ân điển của Ngài trên chúng ta trong những ngày sau rốt nầy trước khi Ngài sẽ đổ cơn thạnh nộ của Ngài trong kỳ Đại Nạn. Ngài không bằng lòng để cho người nào bị hư mất song muốn cho mọi người đều ăn năn”
.
Khi tôi đọc bức thư đó, tôi nhũ thầm: “Ngươi có một đề tài rất hay ở đây”. Thời điểm tốt nhứt, thời điểm tệ hại nhứt, những ngày sau rốt, Kỳ Đại Nạn, và Đức Chúa Trời không bằng lòng để cho người nào bị hư mất. Tôi muốn chạy theo những tư tưởng nầy sâu sắc thêm một chút nữa và nhìn thấy chỗ mà chúng đang dẫn tới.
A. Thời điểm tốt nhứt
Chúng ta có thể khởi sự ở chỗ mà bạn tôi đã khởi sự, với sự thành công đáng kinh ngạc của cuốn phim Sự Thương Khó của Đấng Christ do Mel Gibson khởi quay. Không những cuốn phim đã kiếm được gần 600 triệu $US, nó còn bắt lấy sự chú ý của giới truyền thông nữa. Trong một thời gian ngắn, Chúa Jêsus đã trở thành quen thuộc lắm trên nước Mỹ. Mỗi nhà bình luận truyền hình trên từng kênh đã nói về Chúa Jêsus — Ngài là ai, tại sao Ngài đã đến và tại sao Ngài đã chịu chết. Một việc như thế chưa từng xảy ra trước đây. Kế đó, có sự thành công khó tin của quyển Sống Có Mục Đích của Rick Warren, và cách đây mấy năm người ta rất ưa thích Lời Cầu Nguyện Của Giabê tác giả là Bruce Wilkinson, và cuộc chạy đáng kinh ngạc của quyển Để Lại Sau Lưng của Tim LaHaye và Jerry Jenkins. Ngay cả sự thành công về thương mại của cuốn Mật Mã Da Vinci (một quyển sách tấn công Cơ đốc giáo) chỉ ra sự khao khát thuộc linh (và sự nhầm lẫn thuộc linh) của thế hệ nầy.
Và thật là tốt đẹp khi chúng ta có một người trong Nhà Trắng, ông thực sự tin theo Đức Chúa Jêsus Christ, ông đọc Kinh Thánh, cầu nguyện xin sự dẫn dắt, và công khai khẳng định đức tin Tin Lành của ông. Phần lớn sự thù ghét cay đắng đối với Tổng Thống Bush đều bắt nguồn từ sự cởi mở của ông trong việc nói tới đức tin của ông. Và ở mặt kia, sự xôn xao về quan điểm phá thai của John Kerry đã khiến giới truyền thông phải nói tới ai được và không được phép nắm lấy xã hội. Chúng ta chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ điều chi như thế nầy trước đây.
David Brooks, chủ nhiệm biên tập của tờ tuần báo Standard, mới đây đã viết về On Paradise Drive, một phân tích về xã hội hiện đại. Ông đưa đến kết luận nầy khi để ý thấy 43 triệu người Mỹ chuyển đổi chỗ ở hàng năm: “Chúng ta lao động khó nhọc hơn bất cứ một dân tộc nào khác trên bề mặt địa cầu. Chúng ta đang tìm kiếm gì ở trên đất chứ? Và tôi nghĩ câu trả lời, ấy là chúng ta đang tìm kiếm thiên đàng. Chúng ta đang tìm kiếm paradise”. Chúng ta cứ chuyển từ chỗ nầy đến chỗ kia là vì chúng ta không thể tìm được sự hạnh phúc mà chúng ta đã tìm kiếm. Chúng ta hy vọng tìm được thiên đàng — thậm chí dù chúng ta không nói tới thiên đàng bằng lời lẽ đó.
Một dẫn giải sau cùng. Cách đây không lâu, tôi có nhận một e-mail từ anh thanh niên đã đọc sách của tôi, quyển Beyond All You Can Ask or Think. Sau khi trải qua một kinh nghiệm đầy khó khăn trong mối quan hệ hẹn hò, anh ấy viết cho tôi biết một mảng trong câu chuyện của anh:
“Tôi đã có một khởi đầu khá rắc rối trong cuộc sống và tôi luôn luôn có thì giờ rối rắm với sự cầu nguyện và với đức tin, tôi được nuôi dạy là một người Công giáo, nhưng tôi không biết mình đang đứng ở đâu nữa. Tôi thấy khao khát đức tin và tôi ganh tỵ với những ai có nó, sâu lắng ở bên trong tôi là ước ao Đức Chúa Trời sẽ là một phần trong cuộc đời của tôi. Hôm nay tôi muốn làm chứng về đời sống tôi được thay đổi và trở thành người mà tôi muốn trở thành. Từ chỗ thất vọng, tôi đến với một hiệu sách địa phương để tìm kiếm một sự dẫn dắt nào đó. Tôi bắt gặp quyển sách của ông và tôi quyết định mua nó. Tôi chưa hề nghe nói về ông hoặc có một manh mối nào về Hội Thánh của ông cho tới chừng cách đây một tiếng đồng hồ. Tôi không biết có phải đây là sự tình cờ không nữa, nhưng tôi sống ở thị trấn Oak Park và tôi chỉ nghĩ đấy là một số phận nho nhỏ khi bắt gặp một quyển sách do một tác giả thuộc địa phương viết ra. Mỗi ngày trong cuộc đời tôi là một chiến trận, sau cùng tôi đang thưởng thức một sự thành công nào đó với sự nghiệp của tôi nhưng tôi lại trống không về mặt tâm linh. … Tôi sẵn sàng tiếp nhận Đức Chúa Trời và ý chỉ của Ngài vào trong đời sống của tôi; tôi đã bị tước đi về mặt tâm linh quá lâu rồi. Tôi cầu xin rằng sự tình cờ nầy sẽ đem tôi đến gần Đức Chúa Trời hơn; hôm nay là ngày đầu tiên tôi cầu nguyện thật là lâu. Cảm ơn vì tìm được quyển sách của ông, tôi đang thực hiện một nổ lực để bước theo Đức Chúa Trời. Cảm ơn ông vì thì giờ của ông và tôi tán thưởng những lời cầu nguyện của ông”.
Lời lẽ của anh ấy nhắc cho tôi nhớ tới Truyền đạo 3:11, ở đây chép rằng Đức Chúa Trời đã đặt cõi đời đời vào trong từng tấm lòng. Chúng ta được dựng nên để nhìn biết Đức Chúa Trời, để yêu mến Ngài và để hầu việc Ngài. Theo lời nói của Augustine: “Lạy Chúa, tấm lòng của con được dựng nên là cho Ngài, và chúng con sẽ không yên nghỉ cho tới chừng chúng con tìm được sự yên nghỉ trong Ngài”.
B. Thời điểm tệ hại nhứt
Quả là chẳng khó khăn gì trong việc tìm gặp bằng chứng về mặt tiêu cực trong cuộc sống. Có lẽ điển hình rõ ràng nhất là cuộc tấn công vào hôn nhân và gia đình với hình thức gọi là “hôn nhân vui vẻ”. Giả sử chúng ta vặn đồng hồ lui lại chỉ 12 tháng thôi — đến ngày Mẫu Thân năm rồi. Ai dám tin xứ sở chúng ta đã hướng nhanh đến hôn nhân vui vẻ là dường nào không? Mối quan tâm của tôi ở điểm nầy không phải với người ta ở mặt kia. Rốt lại, họ chỉ đang hành động theo những điều giả định trước của họ thôi. Tại sao chúng ta lại lấy làm ngạc nhiên khi hạng người hư mất hành động giống như hạng người hư mất? Hôn nhân vui vẻ chỉ là sự tỏ ra cuối cùng của nhân loại trong sự loạn nghịch hết mức chống lại Đấng Tạo Hóa của họ. Mối quan tâm lớn lao hơn của tôi là với hạng người trong Hội Thánh, họ có thể biết rõ hơn. Có quá nhiều Cơ đốc nhân, một là họ không nhìn thấy đây là nan đề lớn lao (“Hãy để cho họ làm điều họ muốn làm. Chẳng nhằm nhò gì tôi cả”) hay họ không muốn dính dáng vào (“Tôi không thích cãi cọ”). Nhưng đây là một trận chiến mà ở đó Cơ đốc nhân cần phải chỉ huy cuộc chiến vì những giá trị đạo đức trong xã hội của chúng ta. Có nhiều người trong chúng ta đã giữ im lặng quá lâu.
Chúng ta có thể thêm tình trạng khiêu dâm trên Internet vào danh sách. Một phụ nữ kia, gia đình của bà đã bị tan nát vì một thành viên trong gia đình đã trở nên nghiện ngập với tình trạng khiêu dâm trên Internet, bà nài xin tôi phải cảnh báo dân sự về mối nguy hiểm. Đây là cuộc khủng hoảng đang dấy lên, nó đe dọa chúng ta vì nó xảy ra trong chỗ kín đáo, trong gia đình, trong chỗ riêng tư của màn hình máy tính cá nhân. Chúng ta có thể thêm sự sẩy thai và sự phá thai hợp pháp của người chưa ra đời vào danh sách. Như vậy, có sự phân cách sâu đậm ngày càng lớn trong nước Mỹ — “những tiểu bang xanh”“các tiểu bang đỏ”. Sự phân chia ấy vượt xa hơn các đảng chính trị trước sự phân chia giữa người nào tin theo đạo đức tuyệt đối và người nào không tin.
Chắc chắn chúng ta có thể thêm vào sự dấy lên của Hồi giáo và Kỷ nguyên khủng bố đã nhận chìm chúng ta cả thảy tính từ ngày 11/9. Cách đây mấy ngày Marlene lái xe đưa tôi ra phi cảng O’Hare để tôi có thể bắt chuyến bay đến Nữu Ước. Khi chúng tôi đến đường River, tôi thấy một đám mây đen dày đặc xuất phát từ vùng phụ cận của phi trường. Tư tưởng đầu tiên của tôi là gì chứ? Những tên khủng bố đã đánh vào phi cảng. Trước ngày 11/9 sự việc nầy dường như cường điệu lắm. Còn bây giờ, nhìn biết những gì là cường điệu lại là việc khó. Chúng ta đang sống trong thời buổi mà lớp vỏ an ninh bên ngoài đã bị lột đi, và chúng ta hầu như đã trở nên tê cóng khi có bom rơi, có thêm một hành động hung bạo, có thêm hình ảnh chết chóc và hủy diệt.
Gắn với mọi sự ấy là sự hỗn loạn thần học đang thịnh hành về ơn cứu rỗi: Có phải Chúa Jêsus là con đường duy nhứt dẫn tới thiên đàng không? Cách đây 6 hay 7 năm tôi có nghe Erwin Lutzer tiên đoán rằng đây sẽ là vấn đề thống trị đầu thế kỷ thứ 21. Những biến cố kể từ dạo ấy đã chứng minh ông nói đúng. Cầu nguyện trong danh Chúa Jêsus đã bị chính thức cấm ở nhiều nơi nhóm lại công khai. Giờ đây, chúng ta hay được rằng Hồi giáo, Cơ đốc giáo và Do thái giáo hết thảy đều thờ lạy cùng một Đức Chúa Trời, và người nào xưng danh Jêsus là cách duy nhứt được gọi là kẻ cuồng tín mù quáng.
Cho phép tôi thêm một phần quan sát riêng ở điểm nầy. Như một kết quả của tất cả các yếu tố nầy, huyết áp quốc gia đã lên tới 100 điểm kể từ ngày 11/9. Chúng ta là một quốc gia giận dữ, cáu kỉnh, bị kích thích. Nền an ninh riêng thường nhật của chúng ta đã bị thế chỗ bởi tình trạng không nhẫn nhịn được. Tôi nhìn thấy sự ấy mỗi ngày khi tôi lái xe ra đường. Vào những ngày xưa kia, nếu bạn dừng lại trong một giây khi đèn đã bật xanh, người ta kiên nhẫn chờ đợi. Bây giờ, họ nhấn kèn và rồi họ lại nhấn kèn nữa. Chúng ta mau chóng nổi giận, và khi chúng ta nổi giận, chúng ta đã thực sự nổi giận. Tôi nhận rằng tôi cũng nhìn thấy sự thay đổi trong bản thân mình nữa.
Bài Tín Điều Các Sứ Đồ
Bạn tôi là Mary Jo Lynch hỏi không biết có việc gì muộn màng lắm hay không, trừ ra sự phán xét hầu đến khi Chúa Jêsus tái lâm. Và điều nầy đưa chúng ta trực tiếp đến với cụm từ nầy từ Bài Tín Điều Các Sứ Đồ: “Tôi tin … Ngài sẽ trở lại để xét đoán kẻ sống và kẻ chết”. Cụm từ đơn sơ nầy khẳng định hai lẽ thật rất cơ bản:
1) Chúa Jêsus sẽ tái lâm.
2) Chúa Jêsus sẽ tái lâm để xét đoán kẻ sống và kẻ chết.
Tân Ước đề cập tới sự tái lâm của Đấng Christ trong hơn 300 câu. Nói như thế có nghĩa là cứ một trong 13 câu xử lý với phương diện nào đó về sự tái lâm của Chúa chúng ta với đất. Vấn đề nầy là trọng tâm của Tân Ước đến nỗi Cơ đốc nhân ở khắp mọi nơi đều luôn tin rằng Chúa Jêsus một ngày kia sẽ tái lâm. Mặc dù chúng ta khác biệt (và tranh luận!) về những chi tiết, Cơ đốc nhân trong sự đa dạng đều hiệp một trong sự tin chắc rằng chính mình Đấng Christ sẽ tái lâm trên đất. Chúa Jêsus đã phán ở Giăng 14:3: “ta sẽ trở lại”. Sau đây là 5 từ giúp cho chúng ta hiểu nói như thế có nghĩa gì. Sự tái lâm của Ngài sẽ là …
Riêng tư (chính Chúa Jêsus chớ không phải ai khác)
Đúng như thế (chớ không phải hiện thấy hay chiêm bao)
Thấy được bằng mắt thường (“mọi mắt sẽ trông thấy”)
Thình lình (chớ không phải trở lại từ từ đâu)
Bất ngờ (giống như tên trộm trong ban đêm).
Công Vụ các Sứ đồ 1:11 nói rõ ràng rằng chính mình Chúa Jêsus một ngày kia sẽ trở lại với đất. Chính “Chúa Jêsus” nầy Ngài sẽ trở lại. Hai lần trong một câu, Luca sử dụng từ ngữ “chính” để nói cho chúng ta biết đôi điều cụ thể về Sự Tái Lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng đã ra đi một ngày kia sẽ trở lại. Và Ngài sẽ trở lại với chính cách thức mà Ngài đã ra đi. Nếu tiếng Anh đơn giản có thể có bất kỳ ý nghĩa nào, những chữ nầy dạy cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus đang trở lại theo cách riêng tư, cụ thể, thấy được bằng mắt thường và về phần xác thể. Chúng ta cũng phải nói thêm rằng sự đến của Ngài sẽ là thình lình và bất ngờ lắm. Luca 24:50-52 cho chúng ta biết Chúa Jêsus đã chìa tay Ngài ra để chúc phước cho các môn đồ Ngài, Ngài bắt đầu được cất lên khỏi bề mặt của đất — rõ ràng không có một lời cảnh báo nào cả. Chúng ta có thể cho rằng sự tái lâm của Ngài với đất sẽ chẳng có nhiều kinh ngạc lắm đâu.
Chính Jêsus nầy
Đây thực sự là một tư tưởng đáng kinh ngạc. Chính Jêsus nầy là Đấng đã chào đời tại thành Bếtlêhem sẽ tái lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng đã lớn lên tại thành Naxarét sẽ tái lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng biến nước thành rượu sẽ tái lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng đi bộ trên mặt biển sẽ tái lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng đã chữa lành con trai quan thị vệ sẽ tái lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng làm cho Laxarơ sống lại sẽ tái lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng đã vào thành Jerusalem vào ngày Chúa nhật lễ lá sẽ tái lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng đã bị Giuđa phản bội sẽ tái lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng đã bị đánh bằng roi, bị quất, bị khạc nhổ vào mặt, bị chế giễu, và bị xét xử cho đến chết sẽ tái lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng đã chịu chết trên Đồi Sọ sẽ tái lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng đã sống lại từ kẻ chết vào sáng Chúa nhựt phục sinh sẽ tái lâm. Chính Jêsus nầy là Đấng đã thăng thiên về trời sẽ tái lâm.
Đấy là những gì chúng ta muốn nói khi chúng ta nói rằng Chúa Jêsus sẽ tái lâm. Nhân vật lịch sử đã sống cách đây 2.000 năm ở bên kia thế giới sẽ trở lại với đất thêm một lần nữa. Đúng là điều nầy đang thổi mạnh vào tâm trí của bạn, có phải không? Đang chờ đợi ở đó trong tương lai là một biến cố thật lạ lùng, đáng giật mình, và phước hạnh hơn bất cứ điều gì đã xảy ra trong 2.000 qua. Tôi nói về sự trở lại cụ thể, trông thấy được và về thuộc thể của Đấng Christ đối với đất. Không một biến cố nào long trọng hơn nữa cho những người nam người nữ hiện đại; không một biến cố nào chắc chắn hơn theo ánh sáng của Kinh Thánh.
Hãy giữ mắt của bạn nhìn về vùng Trung Đông
Điều nầy đưa chúng ta đến với một thắc mắc rất quan trọng: Chúng ta đang ở đâu trên thời khóa biểu của Đức Chúa Trời? Tôi đưa ra hai câu trả lời thật đơn giản. Ở một mặt, chẳng ai biết ngày hay giờ tái lâm của Ngài, và thật là nguy hiểm khi xem xét những “dấu hiệu của thời đại”. Ở mặt kia, Kinh Thánh cung ứng một bức tranh đến từng chi tiết nói tới các biến cố xoay quanh Sự Tái Lâm. Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho chúng ta thấy toàn bộ bức tranh nói tới các biến cố của thế giới trong những ngày dẫn tới sự tái lâm của Đấng Christ. Việc đơn giản nhất tôi dám nói là, Hãy giữ mắt của bạn nhìn về vùng Trung Đông. Đấy là nơi mà câu chuyện đã khởi sự, và đấy là nơi mà câu chuyện sẽ kết thúc. Cho nên không có sự tình cờ khi mọi mắt của thế gian sẽ tập trung vào vùng Trung Đông vào chính thời điểm nầy. Hành động quan trọng sau cùng của lịch sử con người sẽ diễn ra — không phải ở Đông Kinh, Nữu ước hay Luân đôn đâu — mà là ở Jerusalem, và ở các nước vây quanh Israel. Có phải chúng ta đang sống trong những ngày sau rốt không? Không một ai biết chắc. Nhưng hãy xem xét các sự kiện sau đây:
1. Có một khuôn mẫu rõ ràng chỉ ra các biến cố được đề ra trong Kinh Thánh về những ngày sau rốt. Nếu bạn ghép lại với nhau những sự dạy có tính tiên tri từ Cựu và Tân Ước, bạn khám phá ra một bức tranh rất chi tiết nói tới bối cảnh chung kết đời — về đạo đức, về chính trị, về thuộc linh, về quân sự và về kinh tế.
2. Có một sự tương đồng đáng kinh ngạc giữa thế giới của chúng ta và thế giới mà Kinh Thánh mô tả vào kỳ chung cuộc. Nếu bạn nghi ngờ, hãy cầm Kinh Thánh lên ở tay nầy và tờ báo ở tay kia. Hãy nhìn xem chúng khít khao với nhau dường bao!
3. Nếu đấy là sự thật, thì chúng ta quả thực phải là dòng dõi được ơn nhìn thấy sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ.
4. Từng dấu hiệu chỉ về một hướng — sẽ không còn lâu nữa đâu.
Một lời từ Phierơ
Nhưng trước khi chúng ta bán đi nhà cửa của mình rồi lên núi để chờ đợi sự trở lại của Chúa, như có người đã bị dẫn dụ sai lầm đã thực hiện trong quá khứ, chúng ta hãy ấp ủ lời lẽ của II Phierơ 3:3-10. Trong phân đoạn Kinh Thánh nầy, Phierơ đã đưa ra một thắc mắt rất đáng ngạc nhiên — một thắc mắc đã quấy rối các tín đồ trong thế kỷ đầu tiên và gây rối cho hạng người biết suy nghĩ hôm nay. Tại sao Chúa chưa trở lại? Ngài còn chờ đợi chi nữa? Sự trễ nãi 2.000 năm có ý nói rằng Ngài sẽ không trở lại, có phải như thế không? Chúng ta sẽ từ bỏ niềm hy vọng Cơ đốc sao? Hãy lắng nghe câu trả lời của Phierơ:
“Trước hết phải biết rằng, trong những ngày sau rốt, sẽ có mấy kẻ hay gièm chê, dùng lời giễu cợt, ở theo tình dục riêng của mình, đến mà nói rằng: Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế. Chúng nó có ý quên lững đi rằng buổi xưa bởi lời Đức Chúa Trời có các từng trời và trái đất, đất ra từ Nước và làm nên ở giữa nước, thế gian bấy giờ cũng bị hủy phá như vậy, là bị chìm đắm bởi nước lụt. Nhưng trời đất thời bây giờ cũng là bởi lời ấy mà còn lại, và để dành cho lửa; lửa sẽ đốt nó đi trong ngày phán xét và hủy phá kẻ ác. Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ nên quên rằng ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày. Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn. Song le, ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Bấy giờ các từng trời sẽ có tiếng vang rầm mà qua đi, các thể chết bị đốt mà tiêu tán, đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị đốt cháy cả” (II Phierơ 3:3-10).
Phân đoạn Kinh Thánh nầy chứa đầy đủ lẽ thật quan trọng đáng được xem xét cẩn thận. Đây là ba điểm phải suy gẫm:
1) Dù những kẻ hay gièm chê nghĩ gì, Sự Tái Lâm là chắc chắn vì Đức Chúa Trời hứa như thế.
Những kẻ hay gièm chê sẽ luôn có mặt với chúng ta. Họ sẽ nói: “Hai mươi thế kỷ đã đến rồi đi và Chúa Jêsus vẫn chưa đến. Thôi bỏ đi. Ngài sẽ chẳng đến đâu”. Đối với lối nói như vậy, Phierơ đáp: “Hãy suy nghĩ về trận lụt thời Nôê”. Trước nước lụt, người ta đã sống trong sự không đếm xỉa gì đến Đức Chúa Trời. Họ đã sống giống như thể ngày mai sẽ không bao giờ đến. Họ đã phạm tội trong từng cách thức khả thi. Nhưng một ngày kia các từng trời đổ nước xuống và các sông suối lớn đều mở ra, và nước đã bao phủ toàn bộ đất. Nếu Đức Chúa Trời có thể từng làm như thế, Ngài có thể làm điều đó một lần nữa đấy — chỉ lần nầy sự tái lâm của Đấng Christ sẽ mang lại sự phán xét bằng lửa cho cả đất.
2) Sự tái lâm sẽ dẫn tới ngày phán xét cho kẻ bất kỉnh.
Hãy chú ý chuỗi những từ ngữ: nước, hủy diệt, phán xét, lửa. Giống như Đức Chúa Trời đã từng hủy diệt thế gian với nước, lần tới Ngài hủy diệt nó bằng lửa. Đối với kẻ bất kỉnh, quả thực Sự Tái Lâm của Đấng Christ sẽ là những tin tức tồi tệ lắm.
3) Sự Tái Lâm bị trì trệ để cung ứng cho con người một cơ hội để đến với Đấng Christ.
Đây là những tin tức tốt lành. Sự “chậm trễ” mà những kẻ hay gièm chê nói tới thực sự là một tặng phẩm của Đức Chúa Trời đang ban cho họ. Ngài cố ý làm chậm trễ sự tái lâm của Chúa để cung ứng cho nhiều người nam người nữ có thêm thời gian để mà ăn năn. Câu 9 tỏ ra tấm lòng dịu dàng của Đức Chúa Trời đối cùng kẻ bị mất. Ngài chẳng lấy làm khoái lạc nơi sự chết của kẻ dữ. Ngài không vui thích khi bỏ người ta vào địa ngục. Ngược lại với dư luận của quần chúng, Ngài không phải là một cụ già lẩm cẩm với hàm râu trắng xóa, đang cười vui khi ông bung ra những tia sấm chớp trên địa cầu. Trong 2.000 năm, Ngài giữ lại sự phán xét sau cùng để cung ứng cho những người nam người nữ loạn nghịch một cơ hội để đưa hai tay đầu hàng và đặt lòng trung thành với Đức Chúa Jêsus Christ.
Theo như Bài Tín Điều Các Sứ Đồ chép: Đấng Christ chắc chắn sẽ xét đoán người sống và kẻ chết. Hết thảy phải đứng trước mặt Ngài mà trình sổ. Không một ai tránh thoát được ngày ấy. Cách đây không lâu, tôi đã nói với một người lính đã hồi hưu, ông nầy đã phục vụ trong các lực lượng vũ trang của Mỹ. Ông đã phục vụ xứ sở mình ở những địa điểm nguy hiểm khắp toàn cầu. Khi tôi hỏi ý kiến của ông về khủng hoảng thế giới mới đây, ông đưa ra lời bình đáng kinh ngạc: “Người Mỹ không e sợ đánh nhau đâu. Chúng ta đã được huấn luyện tốt, được trang bị tốt nhứt, lực lượng chiến đấu tinh nhuệ nhất trên thế giới. Binh lính của chúng ta đã sẵn sàng đánh nhau, với bất cứ ai, bất cứ nơi nào. Nhưng vấn đề cơ bản của chúng ta thì khác lắm. Chúng ta sợ chết”. Khi tôi bảo ông xem lại vấn đề cho chắc, thì rõ ràng rằng ông không thực sự có ý nói binh lính của chúng ta (phần nhiều trong số họ đều đã sẵn sàng đưa ra sự hy sinh tối đa). Ông đã nói tới nước Mỹ trong vai trò một quốc gia. Chúng ta sợ chết vì chúng ta thịnh vượng đến nỗi thế giới nầy đã trở nên giống như thiên đàng, đối với chúng ta là như thế đấy. Chúng ta yêu mến sự giàu có của mình nhiều đến nỗi chúng ta không thể để cho nó qua đi. Vì thế, chúng ta không thông cảm với người nào chẳng có gì để sống, đã tự làm nổ tung mình vì lời hứa của một vài trinh nữ ở đời sau.
Terry Platt
Nhưng sự chết chẳng chóng thì chày nó xảy đến với hết thảy mọi người — và nó xảy đến với một số người trong chúng ta còn mau hơn chúng ta mong đợi nữa. Terry Platt đã qua đi vào sáng sớm thứ Năm. Khi ông ấy bị chẫn đoán với chứng bạch cầu cách đấy mấy tháng, ông biết ông đang có một chiến trận ở trước mặt mình. Từ tháng Giêng, ông đã chịu đựng ba vòng hóa trị rất khó nhọc — mỗi vòng đã gây ra đủ loại triệu chứng. Ông nằm trong bịnh viện để hóa trị vòng thứ tư (hay 8) khi ông qua đời. Terry đã phục vụ trong ban trị sự của Hội Thánh nầy vào thập niên 80 trong vai trò Mục Vụ Giáo dục Cơ đốc. Sau đó, ông có một sự nghiệp rất thành công hoạt động cho Gospel Light. Công việc của ông đã khiến ông phải đi khắp miền Đông của Hoa kỳ, giảng dạy và lãnh đạo các thần học viện. Ông làm bạn với tôi rất sớm trong chức vụ của tôi tại Hội Thánh nầy. Trong mấy năm đầu tiên của tôi ở đây, chúng tôi đã ăn trưa với nhau trong mấy tháng và tôi hiểu ông rất rõ. Về sau ông và Barb trở về Hội Thánh nầy rồi mỗi Chúa nhựt ông có mặt trong thị trấn, ông và Barb ngồi trong chính hàng ghế ấy, hàng ghế sau cùng ở dãy giữa, về phía Đông, gần cửa ra vào. Thường thì tôi hay dừng lại và trao đổi với ông giữa những buổi thờ phượng. Luôn luôn Terry đều có sự vui vẻ, một câu châm biếm, một câu chuyện, rồi luôn luôn có một nụ cười nở ra trên gương mặt.
Khi Marlene và tôi bước vào buổi thờ phượng Lễ Giáng Sinh đầu tiên vào tháng Chạp vừa qua, chúng tôi nhìn thấy Terry và Barb. Ông ấy cười tủm tỉm nói: “Tôi tưởng tôi đã nghe giọng nói của ông”. Khi tôi hỏi sức khỏe ông lúc nầy thế nào rồi, ông đổi sang long trọng hơn rồi đáp: “Các bác sĩ cho tôi biết tôi sẽ sống chừng một năm nữa thôi”. Ông đã vật vã với quyết định to lớn về sự chịu đựng hóa trị khó nhọc là dường nào một khi có khả năng cách điều trị ấy sẽ giết ông chết. Ông và Barb hiển nhiên đã quyết định cứ điều trị, và sau khi quyết định rồi, Terry không hề ngó lại sau. Có nhiều lúc — thực ra là nhiều lần lắm — nổi đau của ông cứ dằn vặt, làm khổ luôn. Từng việc tồi tệ có thể xảy ra, đã xảy ra cho ông. Chứng bạch cầu gấp hai lên, gây đau nhức nơi miệng và cổ họng, sốt cao, máu xấu đi, thân thể ông lạnh giống như nước đá vậy rồi trở nóng lên, cứ nhiều lần như thế. Nhưng ông không hề than phiền. Ông nói cho tôi biết hơn một lần rằng ông đã nói với bác sĩ chuyên khoa ung thư của mình: “Tôi muốn sống bao lâu tôi có thể vì tôi sẽ ở trong thiên đàng trong một thời gian dài, dài lắm”. Khi vị bác sĩ hỏi làm sao ông biết mình sẽ được ở trong thiên đàng, Terry đã cười rồi nói: “Bây giờ ông đang ở trong lãnh thổ của tôi”. Và rồi ông chia sẻ đức tin của mình nơi Đấng Christ. Mỗi lần Terry nhắc tới câu chuyện đó, ông đã mĩm cười với suy tưởng ấy. Ông cứ tiếp tục lo liệu công việc và sắp đặt từ giường bịnh của mình. Khi bịnh càng nặng thêm, ông phải bỏ công việc qua một bên.
Một phiên bản của Giăng 14:6
Khi hay tin ông ấy đang ở trong bịnh viện, tôi đã gọi cho ông vào buổi sáng Phục sinh từ văn phòng của tôi ở nhà thờ, ngay trước buổi thờ phượng lễ 1. Giọng nói của ông yếu đi khi ông trả lời điện thoại, nhưng khi ông nhìn biết đó là tôi, ngay lập tức ông nói: “Ngài đã sống lại rồi! Quả thật, Ngài đã sống lại rồi!” Và kế đó: “Mục sư ơi, Lễ Phục Sinh Phước Hạnh”. Ông đầy dẫy đức tin và hy vọng nơi Chúa. Trước khi chúng tôi treo máy, Terry đã chia sẻ với tôi một phiên dịch riêng của ông về Giăng 14:6, dựa theo nghiên cứu của ông trên bản Kinh Thánh Hylạp. Sau đó, ông ghi cho tôi một chú thích, và đó là email sau cùng ông gửi cho tôi:
“Ngày 24 tháng 5 năm 2004
“Chào Ray,
“Tôi về nhà từ bịnh viện mới mấy ngày nay. Không thể tin được là đã trải qua 1/3 năm. Tôi rất được phước khi tôi đến nhóm lại với Hội Thánh. Kèm theo với bài giảng của ông, tôi suy nghĩ ông giống như một phiên bản mở rộng của
Giăng 14:6. Đây là một phiên dịch riêng từ sự nghiên cứu tiếng Hylạp khi [tôi còn] ở Trường Kinh Thánh.
“’Chính Đức Chúa Jêsus Christ đã phán: Ta là đường đi, và phải nói đấy là con đường duy nhứt, Ta là lẽ thật, và phải nói đấy là lẽ thật duy nhứt, và Ta là sự sống, và phải nói đấy là sự sống duy nhứt. Bất cứ ai muốn đến nơi Cha ở, tuyệt đối khó cho họ trừ phi họ phải nhờ Ta’. Như thế là rõ ràng hơn!
Chúa chúc phước cho ông,
Terry Platt”
Ông ấy đã nói đúng. Nói như thế thì rõ ràng hơn nhiều. Terry đã khư khư đưa cuộc sống của mình bám chặt vào lẽ thật của mấy câu nầy — và giờ đây ông đã gặp Chúa mặt đối mặt. Có khi trong những giờ rất sớm của sáng thứ Năm, ông đã nhắm mắt mình lại ở trên đất rồi mở chúng ra ở trên trời. Ông hiện sống hơn là hôm nay ông từng sống.
Ông đã sống là một Cơ đốc nhân, ông đã chết là một Cơ đốc nhân, và giờ đây ông đã ở trên thiên đàng. Ông là một người có đức tin, ông đã qua đời với đầy đủ đức tin ấy. Ông thường nói: “Tôi đã sẵn sàng qua đời nếu đấy là điều Chúa muốn”. Khi Chúa phán: “Terry ơi, đã đến lúc về quê hương rồi” ông không phải luận bàn chi nữa. Ông chỉ về quê hương với Chúa Jêsus thôi.
Barb nói cho tôi biết: “Tôi rất vui sướng khi nổi đau của ông ấy đã qua đi”. Cảm tạ Đức Chúa Trời chẳng có hóa trị liệu nào cả ở trên trời, không có chứng ung thư, và chẳng có một bịnh viện nào hết. Chẳng có mộ địa nào được đào lên trên sườn đồi thiên đàng. Đối với Terry, điều tệ hại nhất đã qua đi, ánh mặt trời rực rỡ của cõi đời đời hiện đang chiếu rạng nơi gương mặt của ông, và đâu đó ở nơi ấy, ông đang đứng trên tòa giảng, thuật lại những câu chuyện, mĩm cười, ca hát, ngợi khen, rồi nói với hết thảy chúng ta: “Đừng lo về tôi nữa. Tôi đã bình yên rồi. Tôi sẽ gặp lại các bạn”.
Bạn đã sẵn sàng chưa?
Bạn tôi là Gary Olson thích chào tiếp mọi người với câu nói nầy: “Chúa Jêsus sẽ tái lâm. Bạn đã sẵn sàng chưa?” Tôi ghim câu nói nầy vào ve áo của mình: “Bạn đã sẵn sàng chưa?” để tự nhắc nhớ mình rằng tôi sẽ không ở đây cho đến đời đời được. Terry Platt đã sẵn sàng khi Chúa đến gọi ông vào sáng thứ Năm. Còn bạn thì sao? Bạn đã sẵn sàng chưa?
Tôi đồng ý với Mary Jo Lynch. Đây là thời điểm tốt nhứt trong mọi thời điểm; đây là lúc tồi tệ nhất trong mọi thời điểm. Và tôi nghĩ đến tình huống tốt nhất và tồi tệ nhất mà các tín đồ sẽ nhận lấy khi chúng ta hướng đến đỉnh cao của lịch sử con người. Cho phép tôi nói một cách đơn giản rằng tôi không biết khi nào Chúa Jêsus sẽ tái lâm. Tôi không biết và tôi sẽ không đề ra ngày tháng. Tôi mong Ngài sẽ đến không bao lâu nữa. Ngày có thể đến hôm nay. Tôi biết rõ điều nầy: Chúa Jêsus sẽ trở lại khi mọi sự đã sẵn sàng trong chương trình của Đức Chúa Trời. Không một phút nào sớm hơn, không một giây nào trễ hơn.
Chúng ta đang ở gần với ngày trọng đại ấy là dường nào khi tiếng kèn trổi lên, kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại, và chúng ta sẽ được cất lên với họ để gặp Chúa trên không trung, có phải không? Có lẽ rất gần rồi. Chắc chắn gần hơn chúng ta tưởng nữa là.
Một lời nói sau cùng. Nếu Chúa Jêsus phải trở lại hôm nay, liệu bạn có sẵn sàng để gặp Ngài chưa? Nếu bạn nói: “Tôi mong là như thế” hay “Tôi chưa dám chắc”, bạn thực sự chưa sẵn sàng gì cả đâu. Nếu bạn chưa biết Ngài, bạn chưa sẵn sàng để gặp Ngài. Nhưng bạn có thể sẵn sàng bằng cách mở lòng mình ra, tin cậy Ngài làm Cứu Chúa và Chúa của mình. Hãy chạy đến thập tự giá. Hãy nắm chặt lấy huyết đổ ra của Con Đức Chúa Trời. Hãy đặt mọi kỳ vọng của bạn vào những gì Đức Chúa Jêsus Christ đã làm khi Ngài chịu chết trên thập tự giá và đã sống lại từ kẻ chết. Hãy đặt hết trọng lượng của mình lên Chúa Jêsus — hãy trao mọi kỳ vọng của bạn cho Ngài. Hãy gạt qua một bên sự bạn tin cậy vào việc gì đó mà bạn đã tin và hãy tin cậy chỉ một mình Đức Chúa Jêsus Christ mà thôi.
Chúng ta phải đối diện tương lai với chủ nghĩa lạc quan. Thế gian nhìn vào mọi nan đề rồi nói: “Có hy vọng không?” Đối với những người nhìn biết Đức Chúa Jêsus Christ, có hy vọng lớn lắm. Nếu Ngài đến hôm nay, chúng ta đắc thắng. Nếu Ngài đến trong 50 năm nữa, chúng ta đắc thắng. Nếu Ngài đến trong 1.000 năm nữa, chúng ta đắc thắng. Đây là những ngày trọng đại cần phải sống cho, những ngày trọng đại nhất trong toàn bộ lịch sử của nhân loại. Hãy suy nghĩ về điều đó xem. Chúng ta có thể là dòng dõi được ơn để nhìn thấy sự tái lâm của Đức Chúa Jêsus Christ. Nếu đây thực sự là dòng dõi sau cùng, việc nhỏ nhất bạn có thể làm là dâng đời sống mình 100% cho Đức Chúa Jêsus Christ. Hãy tin cậy Ngài thật hoàn toàn hầu cho nếu Ngài đến hôm nay hoặc ngày mai hay tuần tới hoặc một trăm năm nữa, bạn sẽ chẳng có chút gì hối tiếc nhưng sẽ sẵn sàng để gặp Ngài khi Ngài trở lại. Amen.